Bản Tin HUBT

HỆ LIÊN THÔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH & CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
CƠ SỞ - SỐ 10 NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

CƠ SỞ - SỐ 10 NGUYỄN TRƯỜNG TỘ


Lời cảm ơn từ trái tim

đăng 04:37, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le   [ đã cập nhật 04:38, 25 thg 3, 2013 ]

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu một trong những lá thư tâm huyết của các bậc phụ huynh đáng kính gửi đến Ban giám hiệu nhà trường trong tập kỷ yếu 15 năm xây dựng và phát triển Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.

 

LỜI CÁM ƠN TỰ TRÁI TIM

 

Như tất cả những người làm cha, làm mẹ khác, vợ chồng tôi luôn mong các con mình được học hành đến nơi đến chốn, có công ăn việc làm và thành đạt, hạnh phúc hơn mình. Chúng tôi dành toàn bộ tình cảm và vật chất cho các con, hi vọng vào sự học tập và phấn đấu của chúng. Rồi đến lúc con gái đầu của chúng tôi bước vào kỳ thi đại học, mang theo rất nhiều kỳ vọng của gia đình, người thân và các thầy cô giáo từng dạy cháu. Ai cũng chắc cháu sẽ đỗ, nhưng không may, lần ấy cháu thiếu hai điểm để được vào Đại học Quốc gia Hà Nội. Cháu rất buồn và vợ chồng tôi cũng cảm thấy hụt hẫng vô cùng. Vì cháu là con gái nên chúng tôi không muốn để cháu ở nhà ôn thi năm nữa, cố tìm một trường NV2 thích hợp với cháu. May rủi thế nào, có người trong họ khuyên cháu nộp hồ sơ vào Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội. Bản thân chúng tôi lúc ấy cũng không biết nhiều về trường này, hơn nữa, thật sự cũng chẳng mặn mà lắm, vì đây là một trường dân lập.

Nếu như trước kia, chỉ cần tưởng tượng khi nhận được giấy báo nhập học của cháu, gia đình tôi đã sung sướng, tự hào không thể diễn tả nổi; thì bây giờ cầm giấy gọi nhập học của con, chúng tôi thấy băn khoăn vô cùng: không biết có nên cho con đi học trường này không? Không chỉ lo về học phí quá cao, mà điều quan trọng hơn, là tư tưởng mặc cảm với trường dân lập.

Ở vùng nông thôn, như quê tôi, việc cho con đi học dân lập khá hiếm, ít ai coi trọng và học xong, xin việc ngay tại địa phương cũng khó... Nhiều bạn bè, người thân của gia đình cũng khuyên không nên cho cháu đi học dân lập. Vợ tôi thì muốn cháu học sư phạm, nên bảo cho cháu ôn, sang năm thi tiếp. Song có một số thầy, cô giáo của cháu lại bảo không phải cứ trường công lập mới là tốt, học ở đâu không quan trọng, mà quan trọng là học như thế nào, sau này ra trường làm gì. Thật trăm người, trăm ý. Cuối cùng, tôn trọng quyết định của cháu, chúng tôi cho cháu vào Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội.

Còn nhớ ngày đầu đưa cháu lên Hà Nội nhập học cái gì cũng lạ, cũng mới. Phương tiện không có, lại chưa biết đường xá, vất vả lắm hai bố con mới đến được trường. Làm thủ tục cho cháu xong, tôi vẫn rất hoang mang: Không biết mình quyết định như thế có đúng hay không. Bởi trong lúc hỏi đường đến trường, ai cũng bảo nào là học ở đấy thì tốn kém, nào là sinh viên trường này ăn chơi, sành điệu, con nhà giàu,....Tất nhiên cũng có một số người có ý kiến rất tích cực về trường.

Nhưng sau một thời gian cháu vào học, tôi hỏi thì biết cháu rất vui. Cuộc sống tự lập đã làm con tôi trưởng thành hơn nhiều; nó đã nhanh chóng thích nghi được với môi trường mới, nên gia đình cũng yên tâm hơn. Cháu bảo ở trường có nhiều điều mới mẻ nên cháu học hỏi thêm được rất nhiều. Cháu cũng nói cháu làm cán bộ lớp, mới vào trường được học tập huấn về Đoàn, Hội.

Đặc biệt, tôi được nghe cháu kể Thầy Hiệu trưởng của trường từng là một nhà lãnh đạo, một giáo sư về kinh tế có tiếng, sau mỗi lần được nghe Thầy nói chuyện, hầu hết sinh viên đều phấn chấn, chăm chỉ học tập, thêm tin vào ngành nghề đã chọn. Cháu còn kể rất nhiều về các Thầy Cô giáo giảng dạy cháu ở trường, các thầy cô ở Phòng Công tác sinh viên và ở Khoa tiếng Anh, nơi cháu đang theo học... Cháu bảo các Thầy Cô trong trường rất tâm huyết với nghề và quý học trò. Thú thực, nghe cháu nói thế, tôi mừng lắm. Thấm thoắt đã ba năm, con gái tôi giờ đang là sinh viên năm thứ 3. Những lần về nhà, cháu thường say sưa kể chuyện về trường lớp.

Hai năm rồi, năm nào cháu cũng được giấy khen sinh viên khá, được đi tham quan, giao lưu với nhiều doanh nghiệp, trường học... Thực sự, tôi cũng không tưởng tượng được là môi trường học tập ở một trường dân lập, như Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội, lại thú vị và có nhiều hoạt động sôi nổi như thế!

Tuy nhiên, điều mà tôi quan tâm nhất vẫn là kết quả học tập và rèn luyện của cháu. Thời gian gần đây, cháu nói là đang được các Thầy Cô và Đoàn Thanh niên kèm cặp để phấn đấu kết nạp Đảng. Thấy con vui và được quan tâm dạy bảo, gia đình cũng vui lây... Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Trường, tôi xin viết những dòng tâm sự này gửi tới Ban Giám hiệu, các Thầy Cô giáo xem như một lời cảm ơn chân thành nhất của gia đình tôi về sự dạy dỗ tận tình, sự quan tâm, giúp đỡ quý báu đối với con chúng tôi trong những năm học tập và rèn luyện tại đây. Một năm nữa, con gái tôi sẽ tốt nghiệp ra trường. Đến giờ, tôi không còn băn khoăn, lo lắng, e ngại, khi có con học dân lập nữa. Trái lại, gia đình tôi luôn hi vọng cháu sẽ có một tương lai tốt đẹp.

Lê Văn Sơn

Phụ huynh sinh viên Lê Thị Nga (Lớp 842)

Hoạt động sinh viên

đăng 04:36, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le   [ đã cập nhật 04:41, 25 thg 3, 2013 ]

Ban biên tập xin giới thiệu tới độc giả bài viết "Hoạt động sinh viên" của tác giả Thanh Hằng (HUBT News).

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại từng đặt ra vấn đề: “Bất cứ một quốc gia dân tộc và chế độ xã hội nào muốn tồn tại phát triển đều phải quan tâm đến việc bồi dưỡng và phát huy thanh niên. Sự phát triển của thanh niên không những quan hệ đến vận mệnh và tồn tại của đất nước, mà còn ảnh hưởng đến tương lai của dân tộc. Vì vậy, thanh niên luôn là lực lượng chiến lược của mỗi quốc gia, dân tộc”. Qua câu nói trên, ta có thể thấy được vai trò quan trọng của các tổ chức thanh niên.

15 năm là quãng thời gian không phải quá dài nhưng cũng không phải quá ngắn để trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội phát triển như ngày hôm nay. Cũng theo suốt 15 năm đã qua, Đoàn thanh niên – Hội sinh viên không ngừng phát triển và lớn mạnh, trở thành lực lượng đi đầu trong mọi phong trào của trường.

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội có Văn phòng tại phòng A219. Văn phòng Đoàn thực hiện việc tổ chức các hoạt động, sự kiện cho sinh viên trong toàn trường và giao nhiệm vụ tới các cán bộ lớp. Ngoài Đoàn thanh niên còn có Hội sinh viên. Tổ chức Hội gồm có Đội Sinh viên tình nguyện (SVTN) và các câu lạc bộ (CLB). Đội SVTN là lực lượng hết sức năng động, hàng ngày đều hoạt động xung quanh khu vực trường, đặc biệt là vào những giờ cao điểm nhằm làm cho giao thông được thông suốt, giảng viên và sinh viên có thể dễ dàng hơn trong việc đi lại. Bên cạnh đó, đội SVTN cũng cùng các CLB tích cực tham gia các hoạt động mang tính tập thể, góp phần thể hiện vai trò và vị trí của Hội sinh viên. Ban chấp hành của Đoàn thanh niên và Hội sinh viên trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội là nơi hội tụ của những giáo viên, sinh viên ưu tú nhất, có tinh thần trách nhiệm cao nhất. Đoàn thanh niên và Hội sinh viên đều hoạt động hết sức hiệu quả. Thông qua những hoạt động tập thể hay các buổi tập huấn cán bộ, năng lực cũng như trách nhiệm của Đoàn viên, sinh viên lại càng được nâng lên. Định kỳ hàng tháng, Đoàn trường tổ chức chiếu phim miễn phí hoặc sử dụng tiền vé để quyên góp từ thiện tại hội trường B khu học tập Vĩnh Tuy và được các bạn sinh viên hưởng ứng, tham gia nhiệt tình. Đặc biệt sinh viên trường ta đã tham dự chương trình “Rung chuông vàng” và đạt được kết quả đáng khích lệ, khẳng định mạnh mẽ tên tuổi của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trên địa bàn thủ đô cũng như khắp cả nước. Kinh doanh cng

Tuổi trẻ - tuổi của những khát khao, hoài bão. Là thanh niên, ai cũng có những niềm đam mê riêng. Để đáp ứng được những nguyện vọng đó, các CLB trong trường được thành lập. Các CLB rất đa dạng, từ chuyên môn về học thuật như CLB HUBT’s News - Báo chí và Truyền thông, CLB Khởi sự doanh nghiệp, CLB Tiếng Anh L.E.F.Y, CLB Sinh viên nghiên cứu khoa học, CLB Tài chính kế toán, CLB Công nghệ thông tin,…đến chuyên môn về nghệ thuật và thể thao như CLB Hiphop, CLB Guitar, CLB Cầu lông, CLB Taewondo,… Có thể thấy được phong trào hoạt động mạnh mẽ của các câu lạc bộ trong trường khi các CLB nằm rải đều trong mọi lĩnh vực. Đây cũng là sân chơi lành mạnh và hết sức bổ ích cho toàn thể sinh viên giao lưu, học hỏi, trao đổi kiến thức và niềm đam mê. Các CLB trong trường hoạt động vô cùng sôi nổi với những đặc thù riêng nhưng cùng có một mục tiêu chung là cùng nhau phát triển, cùng nhau tạo thành khối đoàn kết. Mỗi năm, các CLB đều họp mặt nhau tại chương trình “Đêm hội” để các thành viên gần gũi, gắn bó với nhau hơn.

Mỗi CLB chọn cho mình một hướng đi và có những thành công nhất định. Nhiều câu lạc bộ đã gắn liền tên tuổi của mình với những chương trình rất sôi động như HUBT’s News với Let’s rock HUBT 2010 – đêm hội tụ và tỏa sáng của 5 band nhạc rock. CLB Tài chính kế toán cũng có một chương trình tuyệt vời - ”Vòng quay tiền tệ” - nơi so tài của những nhà đầu tư tương lai. Secret fashion show của CLB P.R đã gây ấn tượng với sinh viên với những sắc màu lung linh, sự cuốn hút của các người mẫu nghiệp dư,... Các CLB học thuật là nơi mà mỗi sinh viên luôn được chào đón để trau dồi thêm kiến thức, khám phá chính bản thân mình, mở rộng tư duy. Tham gia CLB mang lại cho chúng ta những sự năng động, tính sáng tạo, sự logic và lòng nhiệt huyết – đều là những điều cần thiết.

Đương nhiên là chúng ta không thể quên những “nghệ sỹ” và “vận động viên” của HUBT được. Các CLB Music, Guitar, Hiphop luôn là niềm cảm hứng cho mỗi chương trình mà họ tham gia. Thể thao trường ta không phải là mạnh so với trên địa bàn khu vực, nhưng các CLB của chúng ta cũng có thành tích miễn chê mỗi lần thi đấu. Mới đây, CLB Bóng rổ đã giành giải 3 khi tham dự Giải bóng rổ đại học Nông nghiệp mở rộng, đó là một thành tích không tồi chút nào. Miss HUBT 2010.

Khi tham gia các CLB nghệ thuật, tài năng của chính chúng ta được phát triển để thành công, đôi khi là tỏa sáng rực rỡ. Tình yêu với nghệ thuật là không giới hạn! Đến với thể thao, chúng ta không những được nâng cao về mặt thể chất mà còn được rèn luyện nâng cao phẩm chất xứng đáng với sức trẻ HUBT.

Không chỉ tích cực tham gia hoạt động thực, sinh viên trường ta còn tích tham gia các diễn đàn mạng trong trường nhằm trao đổi thông tin và giao lưu, gặp gỡ. Một số diễn đàn nổi bật nhất đó là forum.hubt.edu.vn, congdonghubt.vn. Đây được xem là những kênh thông tin bổ ích dành không chỉ về học tập mà còn về giải trí, cập nhật các thông tin trong, ngoài trường. Dù mới đi vào hoạt động có hơn 3 năm nhưng forum.hubt.edu.vn đã rất thành công khi thu hút được hàng nghìn người trong cũng như ngoài trường tham gia. Thông qua những diễn đàn như thế này, ngoài việc có nhiều tư liệu học tập, nghiên cứu, bạn còn được cung cấp thông tin về trường, về Đoàn – Hội, các CLB, các hoạt động và bạn có thể đưa ra ý kiến của mình nữa.

Trường ta đã đi qua 15 năm, ngôi trường nâng bước biết bao lứa sinh viên. Để rồi hôm nay khi nhìn lại, HUBT đã đổi thay nhiều lắm. Song, trong mắt nhiều thế hệ thì HUBT vẫn là nơi thân thương nâng bước chân họ vào đời. Sinh viên HUBT là những sinh viên trẻ trung, năng động và nhiệt huyết. Thời gian tới, tôi tin rằng sẽ còn nhiều chương trình và hoạt động hơn nữa được diễn ra, vẫn là HUBT, nhưng những hoạt động này sẽ được nâng lên một tầm cao mới, tốt hơn những gì chúng ta đã và đang có. Mạnh mẽ hơn, vẻ vang hơn, tự hào hơn.

Kawai - Niềm tự hào HUBT

đăng 04:35, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le   [ đã cập nhật 04:43, 25 thg 3, 2013 ]

Ban biên tập xin giới thiệu bài viết "Kawai - Niềm tự hào HUBT" của tác giả Thùy Dung (HUBT News).

 

 

Trải qua 15 năm, với biết bao thăng trầm, trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội giờ đây đã mang một cái tên mới, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Ngôi trường đã cùng đồng hành với 15 thế hệ sinh viên và đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm.

Xuyên suốt 15 năm qua là những nỗ lực không ngừng của cả thầy và trò trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Sự nỗ lực ấy không chỉ dừng lại trong việc học tập, sát sao chuyên cần trong những tiết học. Nó thể hiện rõ nét trong tất cả những hoạt động ngoại khóa, những ý tưởng kinh doanh mới mẻ của những bộ óc luôn tràn ngập sáng tạo. Thêm vào đó là những nghiên cứu khoa học của đông đảo những sinh viên luôn muốn tìm tòi, khám phá.

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội với những thiết bị bổ trợ hữu ích,  đi kèm là một chuỗi cơ sở vật chất hiện đại, điều này đã giúp các sinh viên một phần không hề nhỏ để học tập, nghiên cứu tốt hơn, đạt được thành tích cao, học bổng Kawai. Chúng ta có thể cùng điểm qua rất nhiều những gương mặt sáng giá, những giải thưởng Kawai nổi bật.

Nhưng nhiều người cũng như tân sinh viên của trường sẽ tự hỏi: “Học bổng Kawai là gì?”, “Giải thưởng ấy như thế nào?”, “Tại sao lại là giải thưởng Kawai?”,...

Rất rất nhiều những câu hỏi được đặt ra như thế! Vậy thì chúng ta sẽ cùng tìm hiểu rõ hơn về Học bổng Kawai nhé!

Nguồn gốc của giải thưởng này là do Chủ tịch tập đoàn GE của Nhật Bản – Ngài Mitsumasa Kawai sau một lần sang thăm trường đã nhận thấy một môi trường kinh doanh đầy tiềm năng, với những giáo trình giảng dạy về kinh doanh hợp lý. Ngài Kawai đã đồng ý mỗi năm tài trợ 1.000.000 Yên Nhật tương đương với khoảng 135.000.000 VNĐ cho những sinh viên có ý chí lập nghiệp và đạt kết quả học tập tốt. Giải thưởng Kawai có 3 loại:

- Kawai Kinh doanh: Đạt 7,5 điểm tổng kết tất cả các môn và có những ý tưởng kinh doanh mới mẻ, có thể áp dụng vào thực tiễn, thành viên có thể là một người hoặc một nhóm.

- Kawai Học tập: Đạt 8,5 tổng kết tất cả các môn, hạnh kiểm tốt đối với các cán bộ lớp . Và từ 9,0 trở lên đối với sinh viên bình thường.

- Kawai Nghiên cứu khoa học: Cũng có thể là một người hoặc một nhóm cùng nghiên cứu một sản phẩm khoa học , mới mẻ và áp dụng được vào thực tế.

Mới gần đây thôi, Giải thưởng Kawai Kinh doanh lần thứ XVIII đã trao cho rất nhiều SV ưu tú, tiêu biểu đó là SV Nguyễn Ngọc Việt – Lớp IT.01 – Kawai Hạng Nhất và hiện đang là Giám đốc Công ty TNHH Anh Việt Chung, số vốn ban đầu  lên đến cả tỉ đồng.

Xa hơn một chút, Kawai Kinh doanh lần thứ XVII, cô sinh viên Lê Hồng Nhung – Lớp TC.13-06 – Kawai Kinh doanh Hạng Nhất và hiện đang là Chủ tich HÐQT, kiêm Giám đốc Công ty Cổ phần Composite và Công Nghệ Ánh Dương và Lê Minh Trang – Lớp TC.13-16 – Hạng Nhì, là trong những cổ đông sáng lập Công ty Thuốc lá Sóc Sơn.

Những giải thưởng kinh doanh đã phần nào đánh giá được sự nghiêm túc trong những ý tưởng, cố gắng hết mình với những ý tưởng ấy. Không chỉ dừng lại ở đó, giải thưởng Kawai Học tập cũng đã trao giải cho những sinh viên có thành tích học tập vượt bậc, những cán bộ lớp gương mẫu, kết quả học tập của họ khiến nhiều người không khỏi bất ngờ và thán phục.

Hoàng Đức Duy – Lớp TC.14-19 – Hạng Tư , tổng kết tất cả các môn lên tới 9,08. Đây là con số tổng kết cao nhất của K14. Điều này đã thể hiện rất rõ khả năng của Duy, không chỉ đạt thành tích cao, Duy còn tham gia rất nhiều hoạt động ngoại khóa ý nghĩa của trường và lớp. Và cũng có thành tích ngang ngửa như thế là sinh viên Trần Duy Tân – Lớp QL.13-07, đạt danh hiệu “Sinh viên xuất sắc“ với số điểm tổng kết 9,04. Đặc biệt có sự góp mặt của Đại biểu K15, lớp trưởng Nguyễn Bình Giang – Lớp QL.15-06 với số điểm tổng kết 8,97, kết quả cao nhất trong tất cả các lớp trưởng K15. Điều đương nhiên khi Duy, Giang và Tân trở thành tấm gương cho đông đảo các bạn sinh viên không ngừng cố gắng hơn nữa.

Cuối cùng, chúng ta không thể không nhắc đến Giải thưởng Kawai Nghiên cứu Khoa học – một giải thưởng rất được các sinh viên ủng hộ. Một dự án khá tiêu biểu là “Gà đồi An Thịnh“ cuà SV Nguyễn Quốc Huy – Lớp QL.12-11, đạt Hạng Nhất của Giải thưởng Kawai Nghiên cứu khoa học lần thứ XVII. Tên của  Huy đã không còn xa lạ với các bạn sinh viên trong trường, bởi lẽ không chỉ đạt thành tích 8,32 điểm tổng kết 4 năm học, anh còn là một sinh viên ưu tú về mọi mặt và đạt giải Ba Giải  thưởng  SV NCKH của Bộ  và được  tặng  Bằng  khen  của Bộ trưởng  Bộ  GD&ĐT .

Với tất cả, tất cả những thành quả đó, những cố gắng của toàn thể sinh viên và giáo viên, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã dần trưởng thành, tạo những bước chuyển mình ngoạn mục. Giải thưởng Kawai thực sự là niềm tự hào của chúng ta. Kawai ươm mầm, biến những ý tưởng, những khát khao thành hiện thực, điều đó là một thành công rất lớn vì đã không để những bộ óc tuyệt vời bị tê liệt, không để những phát minh, những sáng kiến bị vùi chôn hay vứt chúng vào sọt rác. Ở đây, tất cả chúng ta được thỏa sức sáng tạo, học tập và rèn luyện kỹ năng một cách tốt nhất về mọi mặt. Những điều đó đã góp phần tạo nên trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội của ngày hôm nay!!!.

Đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo Kế toán và Kiểm toán

đăng 04:33, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le   [ đã cập nhật 04:45, 25 thg 3, 2013 ]

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS. TS. Đặng Văn Thanh - Chủ nhiệm Khoa Kế toán về đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo Kế toán và Kiểm toán.

Có một thực tế

Trong tổng số hơn 410 trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam (tính đến 2011), hiện giờ trăm trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề ở khắp các địa phương trong hơn 300 trường có đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán. Đó là chưa tính tới hàng cả nước. Các trường kinh tế có chuyên ngành đào tạo kế toán và kiểm toán đã đành, không ít trường không dính dáng đến kinh tế, chỉ là kỹ thuật hoặc khoa học cơ bản, cũng tham gia đào tạo kế toán và kiểm toán. Hình như các trường tư thục và dân lập đào tạo đa ngành đều có chuyên ngành kế toán. Nhiều trường kinh tế đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán với đủ mọi hệ đào tạo và cấp bậc đào tạo, từ trung cấp, cao đẳng, liên thông đại học, đại học chính quy, cao học (thạc sĩ và tiến sĩ) với đủ các hệ chính quy, tại chức, đào tạo từ xa. Mỗi năm có cả vạn sinh viên, học sinh chuyên ngành kế toán, kiểm toán ra trường. Đó là chưa kể tới hàng trăm lớp dạy nghề kế toán và kiểm toán do các trường lớp, các trung tâm, các doanh nghiệp tổ chức dưới mọi hình thức. Chuyên ngành kế toán và kiểm toán vẫn là chuyên ngành hấp dẫn, thu hút nhiều thí sinh dự thi hàng năm. Có trường kinh tế, số sinh viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán chiếm trên dưới một nửa tổng số sinh viên. Ở nhiều trường đại học, điểm trúng tuyển vào chuyên ngành kế toán, kiểm toán vẫn cao nhất nhì so với các chuyên ngành khác. Có trường, số sinh viên trúng tuyển chỉ bằng 1/20, 1/30 thí sinh dự thi. Ngay ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, số sinh viên theo học chuyên ngành kế toán và kiểm toán chiếm xấp xỉ 1/2 số sinh viên của trường.

Điều đó thể hiện nhu cầu về kế toán, kiểm toán của xã hội còn rất lớn và đây cũng là một nghề “hot”, được giới trẻ quan tâm. Điều đó cũng hoàn toàn thực tế trong một nền kinh tế đang phát triển. Đến nay chưa thống kê đầy đủ về số người đang làm nghề kế toán ở Việt Nam. Nhưng với phép tính nhỏ: mỗi doanh nghiệp có 1 - 2 người làm kế toán, mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp, mỗi cấp chính quyền có 1 người làm kế toán, thì với gần 500.000 doanh nghiệp, với hàng vạn tổ chức, đơn vị hành chính sự nghiệp, các cấp chính quyền, các cấp ngân sách từ trung ương đến địa phương của 63 tỉnh, thành, hơn 600 quận, huyện, 13 nghìn xã, phường, thì đã có chắc chắn không dưới 2 triệu người đang làm nghề kế toán, kiểm toán. Chỉ cần mỗi năm tăng, giảm 5 - 10%, thì đã phải đào tạo mới cả vạn người làm kế toán, kiểm toán.

Rõ ràng nhu cầu về người làm kế toán, về đào tạo người làm kế toán là rất lớn, thường xuyên, liên tục và ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn.

Yêu cầu mới đối với nghề và đối với người làm kế toán, kiểm toán

Về bản chất, kế toán là công cụ quản lý kinh - tế tài chính hữu ích của các nhà quản lý, chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường, kế toán có chức năng đảm bảo và tổ chức hệ thông tin kinh tế - tài chính tin cậy phục vụ các quyết định kinh tế - tài chính, thỏa mãn yêu cầu quản trị kinh doanh. Cùng với sự phát triển của đất nước, của nền kinh tế, cùng với sự đổi mới kinh tế - tài chính, hoạt động kế toán, kiểm toán của Việt Nam ngày càng được đổi mới, tiếp cận và hoà nhập với các nguyên tắc, thông lệ, chuẩn mực phổ biến trên thế giới.

Trước yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi và trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, kế toán không thuần túy là công cụ quản lý, là việc ghi chép, xử lý thông tin, mà đã phát triển và trở thành một ngành, một loại hình dịch vụ, thương mại dịch vụ. Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam được phát triển cùng với việc tiếp tục tạo lập hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tăng cường hoạt động các tổ chức nghề nghiệp. Phát triển các hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán theo xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, tạo dựng và mở rộng giao lưu nghề nghiệp. Trong kinh tế thị trường, nhà nước quản lý và điều hành kinh tế bằng luật pháp. Nhà nước không phân biệt đối xử. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp bình đẳng, được làm những gì luật pháp không cấm. Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự quyết định.  Doanh nghiệp được sử dung các dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ tư vấn, quản trị, thuế, hải quan, kế toán, kiểm toán,..

Hơn nữa, thời đại ngày nay là thời đại của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghề thông tin đang phát triển như vũ bão, hỗ trợ quan trọng và đắc lực cho quản trị kinh doanh. Kế toán là ngành và lĩnh vực sớm tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ thay thế phần lớn công việc mang tính nghiệp vụ của những người làm kế toán và kiểm toán. Điều đó ảnh hưởng đáng kể tới tính chất công việc kế toán, đặc biệt là nội dung và cách thức đào tạo về kế toán.

Yêu cầu mới đối với nghề kế toán

Trong nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, các nhà kế toán cũng phải đáp ứng những yêu cầu mới:

- Tính chuyên nghiệp và trách nhiệm xã hội của kế toán, kiểm toán. Người làm nghề kế toán, kiểm toán phải là những chuyên gia tài chính, có thể hành nghề độc lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, kế toán và kiểm toán.

-Về năng lực chuyên môn: có hiểu biết về kinh tế - tài chính, kỹ năng tổ chức và xử lý thông tin tài chính, kiểm tra và đánh giá thông tin, đưa ra các ý kiến nhận xét, tư vấn về tài chính cho các nhà quản lý; có trình độ tổ chức hoạt động tài chính, kế toán, điều hành công việc tài chính, kế toán.

- Về đạo đức nghề nghiệp: là nghề nghiệp gắn liền con số, có quan hệ chặt chẽ với các quyết định kinh tế - tài chính, vì vậy đòi hỏi cao về tính trung  thực, khách quan, bản lĩnh nghề nghiệp. Đây cũng là đạo đức nghề nghiệp của những người làm nghề kế toán và kiểm toán.

Trong lộ trình hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã và đang cải cách một cách căn bản, toàn diện, được xây dựng trên cơ sở tiếp cận và hoà nhập có chọn lọc với những nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế về kế toán. Cùng với quá trình tạo dựng khuôn khổ pháp lý và ban hành các hệ thống kế toán và kiểm toán, việc đào tạo bồi dưỡng những người làm kế toán và kiểm toán cũng cần được đổi mới rất căn bản.

Việt Nam đã phát triển hệ thống kế toán, kiểm toán với mục tiêu: thiết lập và phát triển hệ thống kế toán, kiểm toán của Việt Nam trong một khuôn khổ pháp lý và trình độ nghiệp vụ chuyên môn đạt được phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước, tiếp cận và hoà nhập với các nước trên thế giới và trong khu vực; từng bước tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận của quốc tế đối với hệ thống kế toán Việt Nam.

Từ năm 1996 đã tiến hành nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các chuẩn mực quốc tế về kế toán (IAS), chuẩn mực quốc tế về kiểm toán, lựa chọn các chuẩn mực có khả năng áp dụng tại Việt Nam và xúc tiến việc soạn thảo và công bố hệ thống chuẩn mực kế toán việt Nam (VAS), chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.

Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam không ngừng được cải thiện về chất lượng dịch vụ và đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế quốc dân. Các công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ, thể chế tài chính, kế toán của nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ kế toán, tính thuế, lập báo cáo tài chính.

Nhằm đáp ứng giữa nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, thuế của nền kinh tế Việt Nam trong từng giai đoạn, định hướng phát triển của ngành dịch vụ này trong thời gian tới là phải tiếp tục củng cố và tăng cường phát triển cả về số lượng và chất lượng hoạt động; đồng thời từng bước tham gia tiến trình mở cửa và hội nhập với hoạt động nghề nghiệp của các nước trong khu vực và thế giới. Cần hướng tới mục tiêu công nhận quốc tế về hệ thống kế toán và kiểm toán Việt Nam, tạo dựng đầy đủ khuôn khổ pháp lý cho hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán; tiếp tục mở rộng thị trường, phát triển thêm số lượng và tăng cường chất lượng dịch vụ của các tổ chức dịch vụ và tổ chức nghề nghiệp hiện có ở Việt Nam. Theo các cam kết quốc tế, Việt Nam sẽ từng bước mở cửa lĩnh vực kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính với mục tiêu mở cửa rộng rãi vào năm 2020.

Kế toán, kiểm toán - nghề dịch vụ cao cấp

Thực tế những năm qua cho thấy, dịch vụ kế toán, kiểm toán đang chất chứa tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã có hơn 500 nghìn doanh nghiệp hoạt động, trong đó có nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ. Các công ty sẽ không cần thiết phải tuyển dụng nhân viên kế toán hoặc kế toán trưởng. Thuê dịch vụ kế toán, thuê kế toán trưởng sẽ là giải pháp tối ưu trong việc tiết kiệm chi phí và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong hoạt động kế toán, tài chính. Với tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chiếm tới 97% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh trên cả nước và chiếm tới 96% số doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đủ thấy tiềm năng cực kỳ phát triển của dịch vụ kế toán trong tương lai gần.

Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo kế toán, kiểm toán - một nhiệm vụ cấp bách

Từ yêu cầu và thực tế trên, để có những chuyên gia kế toán và kiểm toán được đào tạo ở bậc đại học, đòi hỏi phải đổi mới căn bản chương trình, nội dung và phương thức đào tạo kế toán và kiểm toán.

Về chương trình đào tạo, cần đa dạng hơn, linh hoạt hơn cho các chuyên ngành kế toán và kiểm toán.

Nội dung đào tạo cần phong phú về kiến thức, vừa đảm bảo những kiến thức lý thuyết rất cơ bản, có tính nguyên lý, đạo lý và khoa học, vừa có tính thực tiễn. Khoa học kế toán có tính độc lập và khá hoàn chỉnh cả về nội dung và phương pháp luận, nhưng dựa trên nền tảng của khoa học quản lý và lý thuyết tài chính, Vì vậy, nội dung đào tạo không chỉ bao hàm những kiến thức mang tính nguyên lý, nguyên tắc của kế toán, kiểm toán, không chỉ kỹ năng về phương pháp kế toán, kiểm toán, mà rất cần những kiến thức về lý thuyết kinh tế, quản lý kinh tế và tài chính... Kiến thức về kế toán và kiểm toán không chỉ dừng lại ở phương pháp kế toán, kiểm toán, phương pháp xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính, mà quan trọng hơn là kỹ năng tổ chức thu thập, đánh giá thông tin, kỹ năng sử dụng thông tin do kế toán xử lý và cung cấp, do kiểm toán đã kiểm tra đánh giá và xác nhận. Con số của kế toán phải là con số biết nói, con số phản ảnh thực trạng kinh doanh, thực trạng tài chính của tổ chức, doanh nghiệp. Cần phải cung cấp cho người học kỹ năng nhìn nhận, đánh giá và phân tích thông tin do kế toán và kiểm toán cung cấp.

Phương thức đạo tạo cũng cần thay đổi căn bản, hạn chế cách đào tạo truyền thống, năng về lý thuyết, xa rời thực tế, dẫn đến sinh viên ra trường chậm làm quen với công việc. Không ít trường hợp phải đào tạo thêm, đào tạo lại ngay trong quá trình làm việc. Chấm dứt cách giảng dạy thụ động, người học buộc phải coi các chế độ kế toán do nhà nước quy định là kiến thức kế toán chuẩn. Cần phải tạo cho người học hiểu và phát triển lý luận mang tính bản chất của kế toán và kiểm toán. Chế độ kế toán hay các quy định kế toán, kiểm toán của nhà nước trong từng thời kỳ, trong từng cơ chế quản lý chỉ là sự hiện thân, sự minh chứng cho những nguyên lý mang tính bản chất của kế toán. Hãy chọn phương pháp giảng dạy và phương pháp học tích cực đối với môn học kế toán và kiểm toán. Tăng cường các bài tập tình huống, các trao đổi hai chiều giữa người dạy và người học. Thành lập phòng kế toán ảo ngay trong trường, tạo cơ hội để người học sớm tiếp cận các hoạt động thực tế, các yếu tố, các công việc, các phương pháp, các giấy tờ, chứng tử, sổ kế toán và mẫu biểu thuộc các phần hành kế toán, kiểm toán.

Đây là nội dung quan trọng có tính quyết định chất lượng đào tạo. Vì vậy, đối với giảng viên, cũng cần có những hiểu biết thực tế. Trong quá trình đào tạo nên có sự kết hợp giữa giảng dạy lý thuyết với những báo cáo thực tế của các chuyên gia kinh tế, các doanh nhân, các nhà kế toán, kế toán trưởng, đưa hơi thở của cuộc sống thực tế, của nghề nghiệp vào quá trình đào tạo.

Khả năng và hiện thực

Chuyên ngành kế toán được hình thành ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội ngay từ năm đầu thành lập với tư cách là một chuyên ngành đào tạo trong Khoa Quản trị kinh doanh và sau đó là Khoa Tài chính - Kế toán. Từ năm học 2007-2008, chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán đã được tách ra, độc lập và Khoa Kế toán được thành lập. Những năm qua, với 8 môn học Kế toán tài chính, Kế toán quản trị, Kế toán công, Kiểm toán và Phân tích tài chính, hơn 10 giảng viên cơ hữu và hơn 10 giảng viên thỉnh giảng đã tham gia đào tạo hàng nghìn cử nhân kế toán cho đất nước. Là một chuyên ngành, một ngành học lớn của trường, để đổi mới chương trình, nội dung giảng dạy, nâng cao chất lương đào tạo, sẽ có rất nhiều vấn đề phải suy nghĩ, phải trăn trở, từ nhận thức, quan điểm, cách làm để đổi mới căn bản hoạt động đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán. Ý thức được những đòi hỏi của thực tế và xu hướng phát triển tất yếu của quy mô, chất lượng đào tạo, ba năm qua, dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường, được sự chỉ đạo và khích lệ của Giáo sư Hiệu trưởng, sự hợp tác và hỗ viên trợ của các phòng ban chức năng, các khoa chuyên ngành khác, tập thể cán bộ giáo Khoa Kế toán đã tập trung xây dựng chương trình 19 môn học kế toán, kiểm toán và phân tích tài chính, trong đó có 8 môn học bắt buộc, 10 môn học tự chọn theo phương thức đào tạo tín chỉ. Có không ít môn học mới, hàm chứa những chủ đề và kiến thức mới có trong chương trình đào tạo của rất ít trường đại học, nhưng lại rất cần cho hành nghề và hoạt động nghề nghiệp của những người làm nghề kế toán và kiểm toán, như các môn học Kế toán tập đoàn kinh tế, Kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hành nghề kế toán, hành nghề kiểm toán, Pháp luật về kế toán... Ý thức được vị trí, tầm quan trọng của chương trình môn học và giáo trình môn học trong chất lượng đào tạo và uy tín, vị thế của một trường, một ngành đào tạo, trên cơ sở chương trình môn học đã được phê duyệt, giảng viên của Khoa đã và đang khẩn trương tổ chức biên soạn bài giảng, giáo trình để lưu hành chính thức, phục vụ giảng dạy và học tập. Đây sẽ là thành tựu lớn của Khoa trên bước đường phát triển. Bên cạnh đó, hệ thống bài tập, đề thi học phần cũng đã được rà soát, biện soạn bổ sung, biên soạn mới với chất lượng và độ tin cậy cao hơn; hàng nghìn câu hỏi đã được biên soạn và lưu hành, đảm bảo đúng quy định của nhà trường; có ít nhất 5 câu hỏi cho một tiết giảng. Để công cuộc đổi mới thành công, lực lượng giảng viên của Khoa đã được tăng cường cả ba thế hệ: đội ngũ giảng viên đã có thâm niên giảng dạy vài chục năm, giảng viên đang độ chín và sung sức, giảng viên mới vào nghề. Đến nay, Khoa đã có 30 giảng viên cơ hữu, 25 giảng viên thỉnh giảng. Trong 30 giảng viên cơ hữu có 3 giáo sư và phó giáo sư. 7 tiến sĩ,  8 thạc sĩ và gần 10 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh, học cao học. Đây là đội ngũ giảng viên của một khoa với năng lực, trí tuệ và học hàm, học vị đủ sức làm tròn sứ mạng đào tào kế toán, kiểm toán hiện tại và tương lai của trường. Chắc chắn các nhà giáo, các nhà quản lý của Khoa sẽ làm được, làm tốt công cuộc đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo kế toán và kiểm toán xứng tầm cùng các trường đại học trong cả nước.

Khoa Cơ – Điện tử và Khoa Điện – Điện tử với sự phát triển của trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

đăng 04:32, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu bài viết của GS - TSKH. Phạm Sỹ Tiến - Chủ nhiệm Khoa Cơ - Điện tử về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển khoa trong 15 năm qua.

 

1. Giới thiệu sơ lược về ngành Cơ điện tử và ngành Điện-Điện tử

Trường Đại học dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội thành lập năm 1996. Năm 2006 trường đổi tên thành Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cùng với sự ra đời của Khoa Cơ-Điện và sau đó là các khoa Xây dựng, Kiến trúc. Được GS. Hiệu trưởng Trần Phương và Ban Giám hiệu quan tâm, tạo điều kiện phát triển, nên tuy mới có 5 năm đào tạo, các ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử đã góp phần làm cho trường mang một sắc thái mới, trở thành trường đại học đa ngành, không chỉ còn đào tạo về quản lý, kinh doanh, kinh tế, đáp ứng nhu cầu của đất nước đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong chiến lược phát triển khoa học-công nghệ của nước ta, Cơ điện tử, Điện tử, Tự động hóa được xếp vào nhóm ngành ưu tiên phát triển. Từ Khoa Cơ-Điện, đã tách thành hai khoa: Cơ-Điện tử và Điện-Điện tử. Tuy là các ngành công nghệ cao, nhưng Cơ điện tử và Điện-Điện tử lại gần gũi với đời sống xã hội, thích hợp với những sinh viên có tư duy khoa học, kỹ thuật và có nhiều cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

Điện-Điện tử là lĩnh vực đã phát triển khá lâu, nhưng trong thời đại công nghệ cao, với sự xuất nhiều loại vật liệu mới, vật liệu nanô, thì thành tựu khoa học trong lĩnh vực Điện-Điện tử càng nở rộ, việc đào tạo kỹ sư Điện-Điện tử ngày càng trở nên quan trọng và thu hút nhiều sinh viên.

Cơ điện tử (Mechatronics) là một lĩnh vực khoa học công nghệ mang tính liên ngành giữa Cơ khí, Tin học, Điện tử và Tự động hoá, có phổ nghiên cứu và ứng dụng rất rộng. Việc đào tạo về Cơ điện tử mới bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX trong một số trường đại học ở CHLB Đức và Cộng hòa Áo, sau đó ở Nhật Bản, Hoa kỳ, Trung Quốc, LB Nga... Cơ điện tử được Tạp chí “Technology Review” của Viện Công nghệ Masachussets (MIT) Hoa Kỳ đánh giá là một trong 10 ngành công nghệ có triển vọng làm thay đổi thế giới trong thế kỷ XXI. Nhiều người còn cho rằng, Cơ điện tử là “cơ hội vàng” cho những nước chậm phát triển vươn lên.

Ở Việt Nam, từ một vài năm cuối của thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, Cơ điện tử bắt đầu được đào tạo ở Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh, Học viện Kỹ thuật Quân sự. Sau đó một vài năm, Cơ điện tử được đào đạo ở nhiều trường đại học công lập và dân lập, tư thục ở cả miền Bắc và miền Nam, trong đó có Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.

2. Đào tạo Cơ điện tử và Điện-Điện tử ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ

Từ khi được thành lập ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, ngành Cơ điện tử tập trung trang bị cho sinh viên kiến thức các chuyên ngành: Cơ điện tử trong sản xuất (các hệ thống sản xuất tự động, máy CNC, Robot), Cơ điện tử trong kỹ thuật ô tô, Tự động hóa trong Cơ khí chế tạo máy; còn ngành Điện-Điện tử trang bị kiến thức các chuyên ngành thuộc lĩnh vực điện và điện tử phục vụ sản xuất và cuộc sống hàng ngày, như Điện tử công nghiệp và dân dụng, Tự động hóa và Kỹ thuật điện, Hệ thống điện và Cung cấp điện, Điện tử viễn thông.

Mục tiêu của ngành Cơ điện tử và ngành Điện-Điện tử là đào tạo các kỹ sư thực hành, có kiến thức và kỹ năng cơ bản về cơ khí, điện và điện tử ứng dụng, có khả năng sử dụng các công cụ tin học ứng dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến thiết kế, chế tạo, vận hành, cải tiến và bảo trì các hệ thống máy móc, thiết bị cơ điện tử, hệ thống điện và hệ thống cơ điều khiển tự động.

Học tập kinh nghiệm của các trường đại học Đức và Đài Loan, hai ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử đã xây dựng chương trình đào tạo đại học với mục tiêu thực hành cao, nhưng phù hợp với điều kiện Việt Nam và của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Sinh viên được rèn luyện kỹ năng thực hành trong phòng thí nghiệm do trường đầu tư xây dựng hoặc liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín tại Hà Nội. Ngoài ra, cũng như sinh viên các ngành khác, sinh viên Cơ điện tử và Điện-Điện tử được trang bị tiếng Anh cơ bản và chuyên ngành với số giờ nhiều gấp ba lần số giờ quy định tối thiểu của chương trình đào tạo đại học để đạt trình độ tối thiểu 500 điểm TOEFL khi ra trường.

Để đáp ứng mục tiêu nêu trên, hai ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử đã chuẩn bị đội ngũ giảng viên là các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành có kinh nghiệm nhiều năm trong giáo dục đại học. Trong quá trình đào tạo, hai Khoa còn hướng cho sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học và các hội thảo khoa học, đồng thời tìm hiểu, so sánh năng lực của sinh viên trường ta với sinh viên cùng ngành kỹ thuật của các trường khác.

Được sự hỗ trợ của trường, năm 2009 Khoa Cơ-Điện đã tổ chức tuyển chọn, bồi dưỡng, huấn luyện và cử một đội Cơ điện tử gồm 6 sinh viên Khóa 12 đi dự thi Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 21 tại Trường Đại học Hàng hải Hải Phòng và năm 2010 – một đội gồm 6 sinh viên Khóa 13 đi dự thi Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 22 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Kết quả năm 2009 có hai sinh viên đạt giải khuyến khích, năm 2010 có một sinh viên đạt giải khuyến khích. Điểm thi của sinh viên trường ta đều đạt vị trí trung bình trở lên trong toàn bộ các sinh viên dự thi của tất cả các trường đại học công lập, dân lập và tư thục, đạt vị trí tốp đầu trong số các sinh viên dự thi của khối các trường đại học dân lập-tư thục. Các sinh viên tham gia dự thi Olympic Cơ học đều có ý thức học tập tốt hơn và là hạt nhân trong việc thúc đẩy phong trào học tập của lớp. Kết quả này đã chứng minh sinh viên trường tư thục với điểm đầu vào khiêm tốn, nhưng với sự đào tạo bài bản và sự quản lý tốt, vẫn có thể đứng trong hàng ngũ sinh viên ưu tú của cả nước.

Khóa 11 của trường, đồng thời là khóa đầu tiên của ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử, sau 4,5 năm học tập, hơn 70 sinh viên của hai ngành (chiếm khoảng 80% sinh viên nhập học của Khóa này) đã được bảo vệ luận văn tốt nghiệp từ giữa đến cuối năm 2010. Do chương trình đào tạo thích hợp, các giảng viên nhiệt tình, công tác quản lý tốt, nên những sinh viên nào cố gắng, chăm chỉ học tập, đều có kết quả học tập tốt. Phần lớn luận văn tốt nghiệp của sinh viên Cơ điện tử và Điện-Điện tử đều có sản phẩm cụ thể, đáp ứng yêu cầu đào tạo kỹ sư thực hành. Giảng viên hướng dẫn và duyệt luận văn tốt nghiệp đa số là các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Học viện Kỹ thuật quân sự, đều đánh giá cao nội dung luận văn và năng lực của sinh viên. Điểm luận văn khá cao: gần 20% tốt nghiệp loại khá, còn lại là trung bình khá và trung bình.

Một điều đáng mừng là nhiều sinh viên đã tìm được việc làm trong và ngay sau thời gian làm luận văn. Đến nay, hầu hết sinh viên Khóa 11 hai ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử đã tìm được việc làm trong các doanh nghiệp nhà nước, liên doanh hay tư nhân. Sự chấp nhận của xã hội minh chứng rõ ràng về chất lượng đào tạo ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.

3. Phương hướng phát triển của ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử của Trường Đại hoc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Tuy xuất hiện sau các ngành về Quản lý và Kinh doanh, nhưng bước sang giai đoạn phát triển mới của trường, ngành Cơ điện tử và Điện-Điện tử đã xác định phương hướng cụ thể trong thời gian tới.

Hai ngành tiếp tục đi theo hướng đào tạo kỹ sư thực hành. Điều này, trước hết thể hiện ở chương trình đào tạo sẽ dành nhiều thời gian cho sinh viên luyện tay nghề, phần kiến thức lý thuyết phải tập trung vào những vấn đề cốt lõi, thiết yếu; yêu cầu đối với sinh viên chủ yếu là biết để vận dụng kiến thức trong điều kiện các phương tiện thông tin, tính toán phát triển cao. Hai khoa động viên và khuyến khích giảng viên cơ hữu và thỉnh giảng biên soạn các bài giảng hoặc giáo trình của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội theo hướng thực hành và cô đọng, giúp cho sinh viên học tốt hơn.

Việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên sẽ thực hiện nhiều ở trong trường. Mới đây, trường đã ưu tiên đầu tư cho Khoa Cơ-Điện tử xây dựng một phòng thí nghiệm với quy mô vừa phải, sẽ hoàn thành vào tháng 6/2011. Tiếp sau đó sẽ xây dựng phòng thí nghiệm về Điện-Điện tử. Các phòng thí nghiệm đó đủ khả năng cho sinh viên rèn luyện tay nghề và thực hành lắp ráp vận hành các thiết bị tự động, rôbôt, các mạch điều khiển. Ngoài ra, Khoa Cơ-Điện tử và Khoa Điện-Điện tử tiếp tục hợp đồng với các trường đại học, cao đẳng tại Hà Nội để sinh viên làm quen với các máy móc, thiết bị hiện đại và đa dạng. Chương trình đào tạo hai ngành này còn bố trí một học kỳ (khoảng 5 tháng) cho sinh viên thực hành nghề ở một số trường đại học tiên tiến tại Đài Loan hoặc Trung Quốc.

Tăng cường cơ sở vật chất và đẩy mạnh phương hướng thực hành, cùng với việc sinh viên tốt nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm, sẽ tạo nên sự phấn khởi và tin tưởng của sinh viên, sẽ thu hút nhiều sinh viên vào trường học về công nghệ-kỹ thuật. Song song với đào tạo hệ đại học, hai Khoa Cơ-Điện tử và Điện-Điện tử đã chuẩn bị chương trình đào tạo liên thông cho các sinh viên đã tốt nghiệp cao đẳng/cao đẳng nghề hoàn thiện chương trình đại học để nhận bằng kỹ sư.

Với những thành công đã đạt được trong chặng đường 5 năm qua và những phương hướng đào tạo cụ thể, thực tế, chắc chắn Khoa Cơ-Điện tử và Khoa Điện-Điện tử sẽ đóng góp nhiều hơn vào việc phát triển thương hiệu của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.

Khoa Tài Chính vượt qua mọi khó khăn thử thách, phấn đấu và trưởng thành

đăng 04:31, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS. TS. Lê Văn Hưng - Chủ nhiệm Khoa Tài Chính về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển khoa trong 15 năm qua.

 

Là một trong 4 khoa chuyên ngành đầu tiên của trường, trải qua chặng đường 15 năm xây dựng và phát triển, Khoa Tài chính ngày nay (tiền thân là Khoa Tài chính-Kế toán), với quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách, liên tục phấn đấu vươn lên và đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ trong sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học; là một trong những đơn vị phát triển nhanh chóng về quy mô và đạt chất lượng cao trong giảng dạy và học tập của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.

Phần 1. Nhìn lại chặng đường 15 năm xây dựng và trưởng thành

1. Mục tiêu và chương trình đào tạo

a) Giai đoạn 1996-2000: Mục tiêu chủ yếu của giai đoạn này là “Tham gia đào tạo một đội ngũ cán bộ có khả năng quản lý tài chính và điều hành hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp”, gọi tắt là các nhà quản lý kinh doanh (Managers), gắn với tên gọi của trường khi mới được thành lập.

Yêu cầu của Hiệu trưởng đối với một sinh viên tốt nghiệp ra trường phải hội đủ 3 yếu tố cơ bản: thông thạo nghiệp vụ chuyên môn; sử dụng thành thạo máy vi tính; tiếng Anh phải đạt trình độ 500 điểm TOEFL với 1000 tiết học trên lớp.

Chương trình đào tạo cử nhân trong những năm đầu chỉ tập trung cho một ngành duy nhất là Quản lý kinh doanh. Những môn học có liên quan đến chuyên ngành Tài chính-Kế toán chỉ có 45 ĐVHT, chiếm 17% tổng thời lượng của chương trình đào tạo.

Đối với các chuyên ngành Tài chính-Kế toán-Ngân hàng, là những lĩnh vực mà xã hội đang có nhu cầu lớn, nhưng thời lượng các môn học lại quá ít so với các chuyên ngành Kinh tế và Quản lý, đúng như nhận xét của Hiệu trưởng: “Rộng nhưng không rộng, mà sâu cũng chưa sâu”. Vì vậy, việc định hình nghề nghiệp cho sinh viên để có căn cứ lựa chọn khi vào học và khi ra trường cũng chưa rõ ràng.

Tuy chỉ mới là bước đầu của quá trình hình thành một chuyên ngành đào tạo, nhưng đã thể hiện sự cố gắng và quyết tâm cao của các cán bộ giảng viên trong Khoa Tài chính-Kế toán, đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của tập thể Ban Giám hiệu, đứng đầu là GS. Hiệu trưởng Trần Phương trong việc mở rộng chương trình đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên.

Từ năm 2001 trở đi, Khoa đã tuyển chọn một số sinh viên tốt nghiệp vào loại giỏi và xuất sắc để bổ sung cho đội ngũ giảng viên. Đến nay, hầu hết trong số đó đã được đào tạo và nhận học vị Thạc sỹ ở trong nước và ngoài nước, một số đã được bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm khoa và tham gia phụ trách các Tổ Bộ môn.

b) Giai đoạn 2001-2005: Trước tình hình phát triển nhanh chóng về quy mô đào tạo của trường, đặc biệt là chuyên ngành Tài chính-Kế toán, mỗi khóa đào tạo đã có trên 500 sinh viên tốt nghiệp ra trường. Ban Giám hiệu đã chỉ đạo các đơn vị phối hợp nghiên cứu đề án: “Hoàn thiện chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo”. Mục tiêu chủ yếu của đề án là đào tạo một đội ngũ chuyên gia có “chuyên môn rộng, có khả năng quản lý cả một doanh nghiệp”. Theo đó, một số môn học chủ chốt, như Tài chính doanh nghiệp, Kế toán doanh nghiệp, Tài chính tiền tệ, Thuế, Bảo hiểm, Nghiệp vụ NHTM… đã được điều chỉnh tăng thêm thời lượng.

Từ năm học 2003-2004, bên cạnh hệ đào tạo cử nhân Quản lý kinh doanh, nhà trường đã mở thêm hệ đào tạo cao đẳng Quản lý kinh doanh, chuyên ngành Tài chính-Kế toán và hệ đào tạo trung cấp Kế toán.

Trong năm học 2004-2005, một sự kiện quan trọng là Hiệu trưởng đã ban hành Quyết định số 146 QĐ/BGH ngày 5/10/2005 cho phép tách Khoa Tài chính-Kế toán thành 2 khoa: Khoa Tài chính-Ngân hàng và Khoa Kế toán.

Mục tiêu của Khoa Tài chính-Ngân hàng là đào tạo một đội ngũ chuyên gia nắm vững kiến thức về Tài chính  doanh nghiệp và Ngân hàng thương mại, sử dụng tương đối thành thạo ngoại ngữ và tin học trong các hoạt động nghiệp vụ. Sinh viên ra trường còn có khả năng làm việc trong các ngành khác nhau, như Thuế, Hải quan, Bảo hiểm, Chứng khoán, Kiểm toán và các cơ quan đơn vị sự nghiệp…

c) Giai đoạn 2006-2011: Do nhu cầu mở rộng mục tiêu đào tạo sang lĩnh vực kỹ thuật-công nghệ, ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 750/QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội thành Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Từ đây, sứ mệnh của trường được xác định là đào tạo đồng thời các chuyên gia kinh tế và kỹ thuật thực hành, kết hợp lý luận với thực tiễn, phát triển tài năng đi đôi với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nhằm đào tạo những cán bộ vừa hồng vừa chuyên.

Từ năm học 2007-2009, trường đã mở thêm hệ cao đẳng và hệ đại học tại chức đào tạo cử nhân Tài chính-Ngân hàng, đồng thời, xây dựng chương trình đào tạo hệ trung cấp Tài chính-Ngân hàng. Chương trình này là một bộ phận rất quan trọng trong chiến lược tăng quy mô đào tạo cử nhân Tài chính-Ngân hàng thông qua hệ liên thông, đảm bảo cho sinh viên có đủ khả năng thực hành các nghiệp vụ Tài chính-Kế toán của các doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại, cơ quan Tài chính, Thuế, Hải quan, Bảo hiểm, đặc biệt là các đơn vị sự nghiệp công.

Như vậy, từ năm học 2008 - 2009, ngành Tài chính-Ngân hàng đã hội tụ đủ 3 cấp đào tạo: đại học chính quy, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

Trong 3 năm học gần đây (2007-2010), khối lượng sinh viên vào trường tăng đột biến, đặc biệt là các hệ cao đẳng, trung cấp, liên thông và đại học tại chức. Mặt khác, số sinh viên đăng ký vào học chuyên ngành Tài chính-Ngân hàng chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Vì vậy, vào đầu năm 2010, Ban Giám hiệu đã quyết định tách Khoa Tài chính-Ngân hàng thành Khoa Tài chính và Khoa Ngân hàng, chính thức hoạt động từ 1/3/2010.

Như vậy, từ một Khoa Tài chính-Kế toán ra đời khi trường mới được thành lập, trải qua 15 năm xây dựng và phát triển, đã hình thành 3 khoa vào loại lớn của trường là Khoa Tài chính, Khoa Ngân hàng và Khoa Kế toán. Hàng năm, số sinh viên đăng ký vào học 3 khoa này chiếm xấp xỉ 80% tổng số sinh viên của trường.

Hiện nay Khoa Tài chính đã có 26 cán bộ, giảng viên cơ hữu. Gần một nửa trong số đó có trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ, Phó Giáo sư. Ngoài ra, còn có trên 10 cán bộ khoa học là giảng viên kiêm chức và thỉnh giảng. Khoa Tài chính được Ban Giám hiệu giao quản lý 20 môn học cơ sở ngành và chuyên ngành. Chương trình đào tạo, hệ thống giáo trình, giáo khoa, bài tập thực hành, bộ đề thi trắc nghiệm trên máy tính… đều do Khoa chủ trì và phối hợp biên soạn, đáp ứng kịp thời nhu cầu giảng dạy và học tập của cán bộ và sinh viên trong toàn trường.

2. Một số bài học kinh nghiệm

Nhìn lại chặng đường 15 năm xây dựng và phát triển của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nói chung và của Khoa Tài chính nói riêng, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm thành công chủ yếu sau đây:

1. Nắm vững sứ mệnh và mục tiêu của trường là đào tạo một đội ngũ cán bộ kinh tế và kỹ thuật thực hành; tham gia tích cực vào việc hình thành nguồn nhân lực chủ chốt cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-tài chính, các cơ quan đơn vị sự nghiệp ở trung ương và các địa phương.

2. Quan tâm tìm hiểu nguyện vọng và trình độ của các đối tượng đã trúng tuyển vào học các hệ đào tạo của trường để từ đó xây dựng nội dung, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy phù hợp để đạt được kết quả mong muốn.

3. Thường xuyên quan tâm chăm lo các điều kiện phục vụ công tác giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Trong đó, quan trọng nhất là việc biên soạn đầy đủ, kịp thời, đạt chất lượng cao hệ thống giáo trình, giáo khoa, bài tập thực hành và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trên máy tính; chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ giảng dạy, học tập và thi đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.

4. Chú trọng công tác đào tạo nâng cao trình độ và phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên; đặc biệt chú ý bồi dưỡng kinh nghiệm dạy chữ và dạy người cho đội ngũ giảng viên trẻ để nâng cao uy tín và chất lượng đào tạo của trường,  của Khoa và của từng môn học.

5. Khoa và Bộ môn phải quan tâm xây dựng và củng cố  mối quan hệ hợp tác với các đơn vị trong và ngoài trường, đặc biệt là việc sắp xếp kế hoạch giảng dạy các môn học hợp lý, khoa học, giúp người học tiếp thu kiến thức thuận lợi. Đối với cán bộ kiêm giảng và thỉnh giảng trong và ngoài trường, có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao, ngoài việc tham gia giảng dạy, có thể mời tham gia viết giáo trình, biên soạn bài tập thực hành, hướng dẫn sinh viên viết luận văn tốt nghiệp…

6. Khoa và Bộ môn phải hết sức chú trọng xây dựng phòng tư liệu, cập nhật các văn bản chế độ chính sách mới của ngành có liên quan đến dạy và học; bố trí thời gian để giáo viên đi khảo sát thực tế; khắc phục tình trạng giảng “lý thuyết suông”, giảm tính hấp dẫn, gây cứng nhắc, khó khăn cho người giảng và nhàm chán cho người học.

7. Kết hợp hài hòa công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong đội ngũ giảng viên với những hình thức và bước đi thích hợp. Từ việc nghiên cứu nâng cao chất lượng giáo án, biên soạn câu hỏi trắc nghiệm, bài tập thực hành, đến việc hướng dẫn sinh viên đi thực tập và viết luận văn tốt nghiệp… Yêu cầu chung đối với đội ngũ giảng viên là phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn; phấn đấu vươn lên để đạt được trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ, Phó Giáo sư…

8. Xác định chức trách, nhiệm vụ, phân công hợp lý rõ ràng trong Ban Chủ nhiệm Khoa, trong các Tổ Bộ môn. Duy trì sinh hoạt chuyên môn thường kỳ, đều đặn với nội dung phong phú, thiết thực. Lãnh đạo Khoa cần bàn bạc thống nhất trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng, hàng quý, từng học kỳ và cả năm học. Cần có đánh giá chất lượng công việc và thời gian hoàn thành; có khen chê đúng người, đúng việc.

9. Cần quan tâm và duy trì sinh hoạt của Chi bộ Đảng, Tổ Công đoàn, các đoàn thể quần chúng. Chú trọng công tác xây dựng và phát triển Đảng; xây dựng nội dung hoạt động thiết thực, bổ ích của tổ chức Công đoàn cơ quan, trường học, trọng tâm là việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, giảng viên. Giữ gìn khối đoàn kết nhất trí trong lãnh đạo và giữa lãnh đạo với cán bộ, nhân viên trong Khoa.

Phần 2. Mục tiêu chiến lược phát triển của Khoa Tài chính giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020

1. Mục tiêu tổng quát

- Tập trung sức mạnh và trí tuệ xây dựng Khoa Tài chính phát triển ổn định và bền vững; không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập đối với tất cả 20 môn học do Khoa quản lý, trực tiếp biên soạn giáo trình và giảng dạy.

- Phấn đấu đến năm 2015 mỗi giảng viên cơ hữu của Khoa phải giảng tối thiểu 2-3 môn học. Đến năm 2020 các giảng viên cơ hữu chủ động nắm vững các môn học lý thuyết trong phạm vi Bộ môn và Khoa phụ trách.

- Hàng năm bố trí khoảng 10% thời gian đi nghiên cứu thực tế để nắm bắt  tình hình có liên quan đến các môn học do Bộ môn và Khoa phụ trách.

2.  Chiến lược phát triển

a) Về hệ thống giáo trình, giáo khoa

* Đến năm 2015:

- Soát xét, chỉnh lý để hoàn thiện 9 bộ giáo trình đã biên soạn và đang giảng dạy, bảo đảm đạt các yêu cầu cơ bản do Ban Giám hiệu thống nhất quy định

- Biên soạn bộ bài tập thực hành của một số môn học kiến thức ngành và chuyên ngành.

- Hoàn thiện bộ đề thi trắc nghiệm, công bố đáp án đúng theo quy định.

- Hoàn thành việc biên soạn và đưa vào giảng dạy theo hình thức tín chỉ 11 bộ giáo trình của các môn học mới đã được Ban Giám hiệu phê duyệt, kịp thời giảng dạy một số môn học mới từ khóa 14 và giảng toàn bộ từ khóa 15.

* Đến năm 2020: bổ sung, chỉnh lý và biên soạn lại toàn bộ 20 giáo trình,  đáp ứng được cả 3 yêu cầu: cơ bản nhất, hiện đại nhất, Việt Nam nhất.

b) Về đội ngũ cán bộ, giảng viên

* Hiện nay, số giảng viên cơ hữu có trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ, Phó Giáo sư có 16 người, đạt tỷ trọng 64% trong tổng số cán bộ, giảng viên.

* Đến năm 2015: phấn đấu để số giảng viên cơ hữu có trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ, Phó Giáo sư đạt được 24 người (tăng thêm 3 Tiến sỹ và 8 Thạc sỹ), đạt tỷ trọng 93% trong tổng số cán bộ, giảng viên.

* Đến năm 2020: phấn đấu 100% giảng viên cơ hữu phải đạt trình độ Thạc sỹ trở lên. Trong đó, có 3 PGS, TS, 5 Tiến sỹ, 18 Thạc sỹ.

3. Giải pháp thực hiện

Để đạt được các mục tiêu chiến lược phát triển nói trên, toàn thể cán bộ, giảng viên của Khoa Tài chính sẽ chủ động triển khai các giải pháp sau đây:

1) Làm tốt công tác bồi dưỡng giảng viên trẻ. Phân công các giảng viên có  nhiều kinh nghiệm giúp đỡ các giảng viên trẻ, hướng dẫn và kiểm tra giáo án; bố trí thời gian cho giảng viên giảng thử những chương, mục khó giảng, những môn học mới; dự giờ giảng trên lớp để có ý kiến nhận xét đánh giá chất lượng giảng dạy.

2) Tăng cường sinh hoạt chuyên môn của Khoa, lấy trọng tâm là các Tổ Bộ môn. Nội dung chủ yếu là hoàn thiện hệ thống giáo trình, giáo khoa các môn học do Khoa quản lý; bổ sung và hoàn thiện hệ thống bài tập thực hành; ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trên máy tính; đề thi tự luận các môn học có nhiều bài tập; kết hợp triển khai công tác nghiên cứu khoa học; cải tiến và nâng cao phương pháp giảng dạy; trao đổi kinh nghiệm seminar; phối hợp với Phòng Công tác Sinh viên quản lý và giáo dục sinh viên chây lười, yếu kém.

3) Có kế hoạch bồi dưỡng giảng viên cơ hữu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông qua chương trình đào tạo sau đại học của trường và các trường khác, trong nước và ngoài nước; động viên và tạo điều kiện cho những giảng viên đã có bằng Thạc sỹ được học thêm để làm nghiên cứu sinh, từng bước nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ giảng viên trong Khoa.

4) Xây dựng và củng cố quan hệ hợp tác với các trường, các cơ quan thực tế để làm tốt công tác biên soạn giáo trình, tham gia thỉnh giảng, báo cáo chuyên đề thực tế, phối hợp nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên viết luận văn tốt nghiệp; cập nhật tình hình thực tế, củng cố kiến thức lý luận, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của cán bộ, giảng viên và sinh viên.

5) Hàng năm có kế hoạch bổ sung cán bộ, giảng viên từ hai nguồn chủ yếu: a). Tổ chức bồi dưỡng và tuyển chọn những sinh viên của Khoa đã tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc và có nguyện vọng ở lại trường làm công tác giảng dạy. B). Tiếp nhận các cán bộ, giảng viên của các trường đại học, các bộ ngành đã có học hàm, học vị và có nhiều kinh nghiệm trong công tác đào tạo, có sức khỏe tốt, phục vụ lâu dài.

15 năm - Một chặng đường

đăng 04:30, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS. TS. Trần Ngọc Chương, Chủ nhiệm Khoa Đào tạo tại chức về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển khoa trong 15 năm qua.

 

Khi mới thành lập, ngoài những ngành nghề đào tạo của hệ chính quy, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội còn tổ chức Khóa học HƯỚNG NGHIỆP dành cho những thí sinh chưa đủ điểm vào các trường đại học, muốn củng cố kiến thức để sang năm thử sức một lần nữa. Trong các trường đại học ở nước ngoài, khóa học loại này có tên gọi là”Khóa học dự bị” (Preparatory Course). Những học sinh đã qua Khóa học Hướng nghiệp của trường ta, năm sau thi lại, thường đạt tỉ lệ trúng tuyển vào các trường đại học cao gấp ba, bốn lần so với học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông nói chung.

Ngoài việc ôn lại, nâng cao kiến thức trung học phổ thông, học sinh Hướng nghiệp còn được đào tạo về Tin học ứng dụng và tiếng Anh  là những học phần của Chương trình đào tạo đại học. Nếu năm sau trúng tuyển vào trường ta, các học sinh Hướng nghiệp của trường sẽ được miễn học lại những học phần đó. Nếu không trúng tuyển đại học, những kiến thức về Tin học và tiếng Anh đã học cũng có thể giúp các em nhiều để tìm kiếm việc làm. Tôi còn nhớ hồi đó có một phụ huynh học sinh Hướng nghiệp quê ở Thái Bình đã hồ hởi nói với tôi rằng: “Nhờ học môn Tin học ứng dụng ở trường thầy, con tôi đã mở được cửa hàng Photocopy và Dịch vụ Tin học”.

Do những yêu cầu hấp dẫn của Hệ “Hướng nghiệp”, nên thời gian đầu mới thành lập, trường ta không đáp ứng nổi nhu cầu của học sinh xin vào học , vì thiếu phòng học. Trong các năm 1998  2000, số đơn xin vào học lên tới trên 3.000, nhưng chúng ta chỉ có khả năng tuyển 2.000. Và cũng từ đó, tên gọi “3A”, “4A”, “5A”, … ra đời là để dành riêng cho các lớp gồm những học sinh Hướng nghiệp trúng tuyển vào trường ta. Nhắc đến những tên gọi này, chắc các thầy Nguyễn Hùng Sinh (Khoa CĐ-TCCN), Phạm Minh Trị và Lê Khắc Sửu (Phòng CTSV) có nhiều kỷ niệm đáng nhớ một thời.

10 năm Hệ “Hướng nghiệp” tồn tại và phát triển đã có nhiều thành tích to lớn đóng góp vào sự phát triển chung của trường ta và xã hội. Theo số liệu do Phó trưởng phòng Giáo vụ Lê Ngọc Lan cung cấp, hiện đã có 2.542 cử nhân tốt nghiệp ra trường đang phục vụ ở các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế nước ta là những học sinh từng học qua Hệ “Hướng nghiệp” của trường.

Một điều đáng tiếc là trước khi chấm dứt sự nghiệp đào tạo “Hướng nghiệp”, chúng ta không tổ chức tổng kết để vinh danh người đã sáng lập ra nó, người mà 15 năm xây dựng và phát triển của trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã có nhiều công lao to lớn rất đáng trân trọng: đó là GS. Hiệu trưởng Trần Phương.

Chấm dứt sự nghiệp đào tạo “Hướng nghiệp”, cán bộ Khoa Hướng nghiệp chuyển sang đảm nhận một nhiệm vụ mới đầy khó khăn, vất vả: sự nghiệp ĐÀO TẠO TẠI CHỨC.

Được phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 22.11.2006, Hiệu trưởng trường đã ban hành Quyết định thành lập Khoa Đào tạo Tại chức trực thuộc Ban giám hiệu. Trường ta là trường đại học ngoài công lập đầu tiên được Bộ cho phép mở hệ Đào tạo Tại chức.

Được cấp phép đào tạo vào cuối năm, để kịp tuyển sinh khóa đầu tiên, Khoa đã tranh thủ xin chỉ tiêu của Bộ và thông báo tuyển sinh. Sau hơn ba tháng, trên 200 sinh viên Khóa I đã bắt đầu buổi học đầu tiên.

Công việc của Khoa Đào tạo Tại chức không giống phần lớn các khoa trong trường. Toàn bộ các khâu  từ tuyển sinh đầu vào, lập thời khóa biểu, lên kế hoạch mời giáo viên các khoa, tổ chức thi kết thúc các học phần, thu học phí, cung cấp giáo trình cho học viên… - đều do Khoa phụ trách.

Nguồn tuyển sinh ở Hà Nội ngày càng thu hẹp, Khoa đã tiến hành liên kết tuyển sinh với một số tỉnh, thành, như Lào Cai, Bắc Kạn, Sơn La, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Thái Bình,… để mở rộng quy mô đào tạo.

Gần 5 năm xây dựng và trưởng thành, đến nay Khoa đã có quy mô trên 4.500 sinh viên. Đứa con đầu lòng Khóa 1 sẽ tốt nghiệp ra trường vào cuối năm 2011.

Những kết quả đạt được của Khoa trong thời gian qua là nhờ có sự chỉ đạo sát sao và có hiệu quả của GS. Hiệu trưởng và Ban giám hiệu, của các phòng, ban, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ của các khoa chuyên ngành trong việc cử giáo viên đi giảng… Và, trước hết, không thể thiếu sự nỗ lực và tinh thần đầy trách nhiệm của tập thể cán bộ trong Khoa. Điều này đã được bạn Trần Phong phản ánh trong bài viết khá cảm động đăng trên Bản tin “Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội” số 42:

“Tối nào cũng vậy, các thầy cô đến lớp rất đúng giờ. Khi sinh viên các lớp về hết, các thầy cô trực của Khoa Tại chức mới ra về. Tôi biết trong số họ, có không ít người rất bận việc gia đình, thậm chí có con nhỏ, mẹ già. Có một tối vô tình ghé qua Văn phòng Khoa, tôi bắt gặp lãnh đạo và cán bộ trong Khoa đang quây quần bên mâm cơm đạm bạc tới mức đáng ngạc nhiên. Hình như đêm nay Khoa phải coi thi hoặc chuẩn bị lên đường tới các lớp ở Lào Cai, Bắc Kạn… để tổ chức thi kết thúc các học phần, thu học phí… Thú thật, lúc đó trong lòng tôi bỗng trào dâng nỗi thương cảm các thầy cô vô hạn. Mỗi người mỗi nghề, biết nghề nào  nhàn nhã, vất vả hơn nghề nào, nhất là khi tuổi đời của nhiều thầy cô đã thuộc lớp người xưa nay hiếm…”

Vâng, còn gì đáng khích lệ hơn khi được người đời đánh giá đúng công việc và sự cống hiến của mình.

Nhân kỷ niệm 15 năm xây dựng và trưởng thành của trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, những người làm sự nghiệp 10 năm đào tạo “Hướng nghiệp” và 5 năm đào tạo Đại học Tại chức vui mừng trước những thành quả to lớn của trường trong 15 năm qua và thầm lấy làm vui, vì trong đó có công lao nhỏ bé của mình đóng góp.

Mười lăm năm phấn đấu bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo

đăng 04:29, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

MƯỜI LĂM NĂM PHẤN ĐẤU
BẢO ĐẢM VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Nguyên Phó hiệu trưởng GS. TSKH. Phan Văn Tiệm



Mười lăm năm phát triển, trưởng thành là một giai đoạn mà tập thể thầy và trò, cán bộ quản lý Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (tiền thân là Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội) phấn đấu không ngừng bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng của các hệ, các cấp, các hình thức và tất cả các ngành đào tạo.


Thành tựu về chất lượng đào tạo đã, đang và mãi mãi sẽ là yếu tố quyết định uy tín và ảnh hưởng của trường trong cộng đồng các trường đại học trong và ngoài nước.


Nguồn gốc sâu xa tạo nên những thành tựu này là các quyết sách chiến lược phát triển trường đã được quyết định trong Hội đồng Sáng lập (nhóm trí thức cốt cán của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam) do Giáo sư, Chủ tịch Hội đồng Trần Phương đề xướng. Đó là các quyết sách sau đây:
Một là, quyết sách về xây dựng một trường đại học đa ngành bắt đầu từ ngành đào tạo nhân lực Quản trị kinh doanh (Quản lý kinh doanh) bậc đại học chính quy. Trên đường phát triển sẽ tích lũy kinh nghiệm và nghiên cứu nhu cầu về các loại nhân lực của một vài thập kỷ sắp tới, chuyển dần thành đa ngành về kinh tế: Tài chính, Ngân hàng, Kế toán, Du lịch, Thương mại, v.v...; tiến tới phát triển các ngành thuộc lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, bắt đầu từ Công nghệ thông tin và các ngành thuộc lĩnh vực Ngữ văn, bắt đầu từ tiếng Anh kinh doanh. Ngày nay, sau 15 năm, đã hình thành một trường đại học đa ngành thuộc tốp đầu của cả nước, nhất là về các ngành đào tạo trong lĩnh vực quản lý kinh doanh theo hướng thực hành - ứng dụng.


Hai là, quyết sách đào tạo nhân lực góp phần đáp ứng yêu cầu trang bị một giàn cán bộ cốt cán, bắt đầu từ các ngành quản trị kinh doanh phát triển sang lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ ở tầm vi mô: Công ty, doanh nghiệp, trước hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (cả công ty gia đình, siêu nhỏ). Trong thực tiễn, sinh viên của trường sẽ nắm giữ các vai trò khác nhau về nghề quản lý các loại doanh nghiệp lớn, cực lớn. Những năm tháng ở trường là nhằm tạo ra các cơ sở vững chắc cho triển vọng đó.

Ba là, quyết sách đào tạo cán bộ kinh doanh và công nghệ thực hành - ứng dụng, trước hết là ở doanh nghiệp theo nghề quản lý kinh doanh và ứng dụng công nghệ.


Bốn là, quyết sách đào tạo kỹ năng cơ bản là thành thạo nghề nghiệp - chuyên môn nghiệp vụ - kỹ thuật, công nghệ cùng với hai kỹ năng phụ trợ: Ngoại ngữ (trước hết là tiếng Anh kinh doanh) và kỹ năng sử dụng kỹ thuật vi tính, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.


Bốn quyết sách chiến lược trên đây đã là cột trụ của mô hình đào tạo nhân lực của trường, vận hành có hiệu quả trong 15 năm qua. Mô hình đó góp phần quyết định cơ cấu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, dẫn đến chất lượng đào tạo được nâng cao vượt trội qua mỗi khóa đào tạo, phát huy uy tín, thương hiệu của trường. Đó cũng là những quan điểm cơ bản chi phối mỗi hoạt động đào tạo của trường ở các ngành, các cấp, các hệ (lĩnh vực) và hình thức, phương pháp thực hiện toàn bộ quy trình đào tạo toàn khóa.


Trong giai đoạn vài năm gần đây, sau nhiều vòng nghiên cứu, thảo luận, tìm tòi, đội ngũ cốt cán, giảng viên, cán bộ quản lý với sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Hiệu trưởng đã tạo ra quyết sách lớn thứ năm: Chuyển từ đào tạo theo niên chế qua học chế tín chỉ với những bước đi thích hợp. Đó là hai giai  đoạn: Sau học kỳ đầu theo chương trình đại cương do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và các học phần thuộc kiến thức cơ sở theo ngành đào tạo do trường quyết định. Từ học kỳ 7, sinh viên đại học chính quy được lựa chọn đăng ký học các chuyên ngành (thường là 3 - 5 chuyên ngành cho mỗi ngành). Mỗi chuyên ngành gồm 3 - 5 học phần chuyên sâu của từng ngành đào tạo. Quá trình chuyển qua học chế tín chỉ tuy mới bắt đầu, nhưng triển vọng rất lớn đối với việc quán triệt quyết sách đào tạo nghề nghiệp với 3 loại kỹ năng, trong đó kỹ năng chuyên môn - kỹ thuật là cơ bản. Bước chuyển này tạo ra khả năng nâng cao chất lượng đào tạo, tiến thêm mức mới trong giai đoạn 15 năm thứ hai của trường (2011 - 2025).


Ban lãnh đạo trường, đứng đầu là GS. Hiệu trưởng Trần Phương, đã đưa ra phương hướng cơ bản của thời kỳ phát triển sau 15 năm đầu là chuyển mạnh sang phát triển chiều sâu, lấy chất lượng đào tạo làm đầu. Do vậy khi đã đánh giá chính xác nguồn gốc tạo ra thành công về chất lượng đào tạo của 12 khóa đại học chính quy và chất lượng đầu ra của các cấp, các hệ và các hình thức đào tạo khác trong 15 năm qua, cần xác định rõ những giải pháp cơ bản đã được áp dụng ở các khâu của tòan bộ quá trình đào tạo của trường. Nhìn tổng quát, có thể thấy 15 năm qua trường đã kiên trì thực hiện hàng loạt giải pháp rất căn bản. Sau đây là một số giải pháp lớn.


Trước hết, ngay từ trước khi chiêu sinh Khóa I (1995 - 1996), những người lãnh đạo và đội ngũ cốt cán đã đặt ra ưu tiên số một để mở trường là xác định một số chương trình đào tạo cho vài ngành mở đầu của trường. Có thể nói, một chương trình đào tạo khoa học, hợp lý phù hợp với thực tiễn, tiếp cận được thành tựu đào tạo đại học tiên tiến trên thế giới là tiền đề có ý nghĩa quyết định thành công của quá trình đào tạo. Một chương trình có chất lượng là chương trình có cơ cấu kiến thức hợp lý, chứa đựng những kiến thức hiện đại, chống lạc hậu, sáo mòn, có tác dụng chuẩn bị kiến thức và đặc biệt là kỹ năng cơ bản phù hợp với các “chuẩn đầu ra” do trường đã xác định. Chương trình đào tạo quyết định chất lượng đào tạo của trường, của từng ngành đào tạo. Trường đã dày công tham khảo hàng trăm chương trình đào tạo có liên quan của hàng chục trường đại học danh tiếng của Mỹ, Tây âu, Úc, một số nước châu á và Đông Nam á; từ đó kết hợp với thực tiễn Việt Nam, những quy định cơ bản trong Luật Giáo dục và các văn bản pháp quy của Nhà nước, của ngành để xây dựng chương trình đại học chính quy đầu tiên của Khóa I cho ngành Quản lý kinh doanh. Đến nay trường đã qua 7 lần điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở kinh nghiệm đúc rút từ các khóa đào tạo để hình thành một hệ thống chương trình đào tạo của trường. Đó là điểm tựa và là điểm xuất phát đầu tiên để bố trí quá trình đào tạo trong trường (hệ thống chương trình lấy chương trình đại học chính quy làm cơ sở); là chỗ dựa để soạn thảo chương trình đào tạo các cấp học trong cùng ngành đào tạo, các phương thức đào tạo (trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học liên thông, tại chức, kể cả đào tạo từ xa).


Hệ thống chương trình đào tạo của trường hiện nay gồm có 13 chương trình với những đặc thù riêng theo ngành, nhưng đều dựa trên những chuẩn mực thống nhất, như khung thời gian của khóa học (4 - 4,5 năm/một khóa), có cả 3 phần kiến thức: Đại cương, cơ sở ngành và chuyên ngành tự chọn (học chế tín chỉ). Hiện tại ngành Quản lý kinh doanh có 6 chương trình, Kỹ thuật - công nghệ - 5 chương trình và Ngữ văn - 2 chương trình. Trong mỗi lĩnh vực thì giữa các ngành đào tạo cũng có sự khác biệt, không phải ở phần đại cương, mà chủ yếu là ở phần cơ sở ngành và đặc biệt khá rành rọt trong phần đào tạo chuyên sâu của mỗi ngành.


Tính hệ thống về chương trình đào tạo là cơ sở thực hiện đào tạo liên thông (từ trung cấp chuyên nghiệp lên cao đẳng, cao đẳng lên đại học. Đào tạo thạc sĩ kinh tế, với các chương trình Quản trị kinh doanh, Tài chính, Kế toán và Ngân hàng, thực sự là việc nối tiếp trên cơ sở cao hơn, sâu hơn kiến thức ngành đại học chính quy tương ứng.


Đặc điểm nổi bật của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội là không chỉ xây dựng chương trình cho ngành đào tạo (13 ngành) và chuyên ngành (2 - 4 chuyên ngành trong mỗi ngành), mà còn thiết kế chương trình cho từng môn học (học phần). Tất cả các chương trình ngành, chuyên ngành và học phần đều theo mẫu thống nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo do các chuyên gia của Hội đồng Khoa học thuộc các Bộ môn, Khoa xây dựng, Giáo sư Hiệu trưởng duyệt, phê chuẩn ban hành, là cơ sở viết giáo trình, bài giảng cho tất cả các ngành, chuyên ngành, học phần.


Giải pháp lớn nổi bật là xử lý thích hợp yêu cầu đào tạo theo mục tiêu, mô  hình riêng có và các kỹ năng chuyên ngành của trường để hình thành gần 100 giáo trình, bài giảng hiện đang áp dụng có hiệu quả trong trường. Về nguyên tắc, giáo trình, bài giảng phải tuân thủ các chuẩn đầu ra của ngành, mục tiêu đào tạo của từng môn học và trên hết là phải bảo đảm định hướng đào tạo cán bộ thành thục nghề nghiệp theo mục tiêu của từng ngành và chuyên ngành đào tạo.


Trường áp dụng 3 loại giáo trình trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, hiện đại, thực tiễn nghề nghiệp (kỹ năng chuyên môn) cho từng ngành học và môn học. Giáo trình (hoặc bài giảng) tự biên soạn do Hội đồng Khoa học chuyên ngành thẩm định, Hiệu trưởng duyệt phát hành, sử dụng trong trường. Nhiều môn học mới chưa kịp hoặc không cần thiết tự biên soạn thì lựa chọn các giáo trình hiện có trong nước và trên thế giới (dịch) để áp dụng. Có những bộ môn khoa học trên thế giới chưa hoặc không có giáo trình in sẵn, thì sử dụng các công trình chuyên ngành của các tác giả được phổ biến sử dụng ở các ngành tương tự (Thị trường chứng khóan, Khoa học lao động, Kinh tế học Vi mô, v.v...) trong các trường đại học danh tiếng ở nước ngòai.


Dù đã dầy công đầu tư liên tục hoàn thiện chương trình, giáo trình, không ngừng đổi mới cơ cấu kiến thức theo hướng hiện đại hơn, tay nghề trong chuẩn đầu ra thành thạo hơn, ba kỹ năng đều được xem trọng và vẫn coi kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là cơ bản nhất, song cơ cấu kiến thức trong các chương trình và giáo trình của trường đang có sự đòi hỏi hiện đại hơn nữa, thực hành nghề nghiệp chuyên sâu và thành thạo hơn nữa đối với sinh viên tốt nghiệp ra trường.


Chương trình tốt, giáo trình hay đều do đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý góp phần xây dựng nên. Họ là lực lượng cơ bản nhất, quyết định nhất, tạo nên chất lượng tốt của quá trình đào tạo. Ý thức được tầm quan trọng này, Ban lãnh đạo trường đã có chính sách chiêu hiền đãi sĩ khá thành công. Đó là thế hệ đã hết tuổi làm việc trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước. Họ là những trí thức còn sức khỏe và tâm huyết đào tạo thế hệ trẻ. Bên cạnh lớp cán bộ này trường còn có những giảng viên mới tốt nghiệp 5 - 10 năm ở các trường đại học trong và ngoài nước. Thế hệ lớn tuổi có thâm niên giảng dạy và quản lý đào tạo, quản lý kinh tế trên dưới 30 năm. Họ có học vị tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, phó giáo sư, giáo sư, nhà giáo ưu tú... Thế mạnh đó cho phép họ đảm đương những khâu quan trọng nhất trong quá trình đào tạo của trường, đồng thời kèm cặp hướng dẫn lớp giảng viên trẻ. Giảng viên trẻ tuy ít kinh nghiệm hơn, nhưng kiến thức và kỹ năng về quản trị kinh doanh và công nghệ hiện đại, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ (tiếng Anh) vượt trội sẽ bổ sung những yếu tố rất quý cho đội ngũ gồm nhiều thế hệ giảng viên và cán bộ quản lý. Sự kết hợp, bổ sung này làm nên sức mạnh của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội và chất lượng đào tạo của trường hiện nay và cả trong thời gian sắp đến.


Một giải pháp căn bản đã áp dụng trong 15 năm qua của trường là đổi mới cách thi và kiểm tra. Ngay từ kỳ thi tuyển sinh Khóa I (1996), trường đã từ bỏ cách thi tự luận và vấn đáp vốn là truyền thống ở các trường đại học Việt Nam. 15 năm nay trường đã áp dụng khá triệt để cách thi trắc nghiệm khách quan trên máy đối với tất cả các kỳ thi kết thúc học phần, học kỳ cho gần 100% môn học thuộc lĩnh vực đào tạo các ngành Quản lý kinh doanh, Công nghệ thông tin và nhiều môn học ngành tiếng Anh kinh doanh. Trong các ngành Kỹ thuật - công nghệ hình thức thi này đang được dần dần đưa vào áp dụng. Cách thi trắc nghiệm khách quan trên máy giúp rút ngắn thời gian thi, chấm bài, thống kê điểm kết quả học tập học kỳ, năm học và khóa học của sinh viên. Cách thi này kiểm tra gần như toàn phần môn học (học phần), chống “học tủ”, đặc biệt là hầu như triệt tiêu được tệ nạn “mua bài, bán điểm” ở các kỳ thi bằng phương pháp tự luận.


Trong 15 năm qua đội ngũ giảng viên, Hội đồng Khoa học Khoa, trường đã thẩm định và công bố áp dụng hơn 7 vạn câu hỏi thi trắc nghiệm khách quan trên máy. Đó là các công trình khoa học quý giá, góp phần đắc lực vào việc thúc đẩy phong trào tự học, nắm bắt có hệ thống nội dung khoa học của các môn học trong tuyệt đại bộ phận sinh viên, nhất là ở các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực quản lý kinh doanh.
Giải pháp lớn khác có tác dụng sâu sắc đến việc bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo của trường là một loạt quy chế được áp dụng thúc đẩy dạy và học theo phương pháp tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm của quá trình đào tạo. Cho đến nay hầu như không tồn tại hiện tượng giảng bài bằng cách “dạy áp đặt, học thụ động” theo kiểu “thầy nói - trò ghi”.


Trường chủ trương giảm giờ giảng, tăng seminar, bài tập, mở rộng các hình thức áp dụng computer, projector và cả các kiểu “thực hành ảo” qua các mô hình mô phỏng bằng phim ảnh và các hình thức khác. Tất cả các học phần thuộc các chương trình đại cương, cơ sở ngành cũng như chuyên ngành thuộc tất cả các ngành đào tạo bắt buộc dành ít nhất 30% tổng thời lượng làm việc có hướng dẫn trên lớp cho khâu seminar, bài tập thực hành, đối thoại trực tiếp và thảo luận, thuyết trình chuyên đề tình huống theo từng chương, từng phần, từng học phần. Một số học phần áp dụng phương thức thăm quan hiện trường, kiến tập. Để tăng cường kỹ năng đọc, nói, viết, ngoài hệ thống giáo trình, tài liệu tất đọc, tài liệu tham khảo rộng, các học phần quan trọng, yêu cầu sinh viên viết tiểu luận và làm đề án thiết kế môn học (các ngành Kỹ thuật - công nghệ). Phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên với các hội nghị khoa học, các cuộc thi đã thúc đẩy tính tích cực trong phương pháp học của sinh viên. Các quy chế dạy và học này bổ sung cho hình thức thi trắc nghiệm khách quan trên máy, nâng cao tính chủ động trong học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực tư duy, tổng hợp và hình thành kiến thức và kỹ năng có tính hệ thống.


Đổi mới cách thực tập tốt nghiệp (cuối khóa) và thi tốt nghiệp là giải pháp rèn luyện kỹ năng nghiên cứu phân tích và tập dượt thực hành nghề nghiệp có hiệu quả đối với các ngành đào tạo.
Trong điều kiện các doanh nghiệp thực thi cơ chế thị trường, giữa trường và doanh nghiệp chưa hình thành quan hệ liên kết, hợp tác sản xuất - kinh doanh - nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong đào tạo. Trường đã đổi mới cách thực tập cuối khóa như sau đây:
- Chủ yếu sinh viên tự tìm cơ sở thực tập. Trong nhiều trường hợp thì đó là cơ sở tham quan, kiến tập, thậm chí là cơ sở cung cấp, sưu tầm tư liệu - số liệu để viết báo cáo thực tập.
- Giảng viên hướng dẫn thông qua đề cương báo cáo thực tập, trên thực tế kèm theo kế hoạch, tiến độ sưu tầm tư liệu, viết báo cáo thực tập ở cơ sở được chọn.
- Dựa trên kế hoạch đó, giảng viên hướng dẫn gặp gỡ, kiểm tra, gợi ý cho sinh viên.
- Chấm báo cáo khi đợt thực tập kết thúc, chuyển qua quá trình viết luận văn tốt nghiệp.


Từ khóa đầu đến nay trường chủ trương 100% sinh viên đạt yêu cầu về các môn học qua thi kết thúc học phần đều phải viết luận văn tốt nghiệp dựa trên cơ sở báo cáo thực tập đã thực hiện. Điều này không giống với các trường đại học khác, khi chỉ cho phép sinh viên khá giỏi viết luận văn, số sinh viên còn lại thì thi (tự luận) một số môn học chủ chốt của ngành đào tạo.


Việc tập dượt viết báo cáo và luận văn có kết quả tích cực đối với việc rèn luyện kỹ năng thực hành, ứng dụng cho sinh viên. Nói chung, trường không chủ trương viết luận văn theo các chủ đề thuần túy lý thuyết. Điều này tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao khả năng vận dụng kiến thức đã học tập xử lý một vấn đề thực tế phát sinh ở doanh nghiệp.


Khi nói đến chất lượng đào tạo tòan diện, thì ngòai những giải pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn nghề nghiệp, trường có hệ thống Giáo viên chủ nhiệm chuyên trách chăm lo công tác giáo dục đạo đức, tư cách, hướng dẫn và đánh giá kết quả rèn luyện của từng sinh viên. Giáo viên chủ nhiệm cũng là cầu nối giữa trường và gia đình sinh viên.


Vài năm vừa qua thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục đào tạo, trường đã tổ chức tự kiểm định, đánh giá chất lượng, trong đó chủ yếu lá chất lượng đào tạo về chuyên môn, nghề nghiệp. Các thành viên Ban giám hiệu chủ trì các chuyên đề tự đánh giá chất lượng của trường. Thông qua hội thảo ở các Bộ môn, Khoa, Phòng, Ban, tập thể nhà trường nhất trí cao với kết quả tự đánh giá chất lượng thuộc tốp cao trong các trường đại học do Ban giám hiệu đưa ra. Đồng thời các hội thảo cũng tán đồng trong giai đoạn sau 15 năm xây dựng và trưởng thành, trường cần củng cố về quy mô đào tạo, tập trung mọi nguồn lực chuyển hẳn qua trọng tâm nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo. Đó là con đường tiến lên của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn sau năm 2011./.

Tay không xây dựng cơ đồ

đăng 04:28, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

TAY KHÔNG XÂY DỰNG CƠ ĐỒ
Phó hiệu trưởng TS. Trần Công Bảy

 



Thời gian trôi đi nhanh quá, từ ngày thành lập đã 15 năm rồi! Trường Đại học dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội được thành lập gần như từ hai bàn tay trắng: Trường lớp không, máy móc thiết bị không, đội ngũ cán bộ chỉ "lèo tèo" hơn chục người, khó khăn trăm bề.


Chúng ta từng bước đi lên, việc làm đầu tiên là thuê cơ sở để tuyển sinh và giảng dạy. Cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý được tuyển từ những người quen biết của các thành viên sáng lập Trường.


Nhà trường bỏ tiền để hoàn thiện ngôi nhà 5 tầng tại số 1B Cảm Hội thuê của Công ty ô tô vận tải ô tô số 3 mới xây xong phần thô thành các phòng học. Xây một nhà 2 tầng diện tích sàn khoảng 50m2, tầng dưới làm nhà ăn cho cán bộ, giảng viên, tầng trên bố trí nơi làm việc của Hiệu trưởng và hội họp.


Quy mô đào tạo ngày càng mở rộng, trường thuê thêm gara ô tô của Công ty Du lịch và xúc tiến đầu tư ở ngõ 651B dốc Minh Khai cải tạo thành các phòng học. Gara là ngôi nhà 2 tầng dài gần 100m, không có vách ngăn. Để cải tạo thành các lớp học, phải ngăn ra thành từng lớp theo yêu cầu của giảng dạy bằng vật liệu nhẹ và cải tạo mái để giảm độ nóng tối đa. Xác định đây là cơ sở sẽ thuê lâu dài nên Trường đã đầu tư 5 tỷ đồng cho việc cải tạo, khi ấy số tiền này đối với Trường rất lớn, phải dành dụm trong nhiều năm mới có.

Muốn tồn tại và phát triển, Trường phải có cơ sở của chính mình khẳng định vị trí của Trường và tạo lòng tin trong xã hội. Ngay sau khi đi vào hoạt động, Trường đã lo tìm đất xây trường và được thành phố Hà Nội giới thiệu nhiều nơi nhưng không phù hợp với yêu cầu nêu ra là Trường chỉ cách Hồ Gươm - Trung tâm Thủ đô khoảng 8 km để tiện cho sinh viên đi lại. Nếu xa hơn sẽ không có sức hấp dẫn. Vĩnh Tuy đáp ứng được yêu cầu ấy và đã được Trường lựa chọn.

Sau bao nhiều năm tháng lo thủ tục và triển khai xây dựng, tháng 7 năm 2005 ngôi trường gồm 2 đơn nguyên dài gần 90m cao trên 30m, 7 tầng đã hoàn thành. Ngôi trường uy nghiêm đứng sừng sững ở phía Nam của Thủ đô, cạnh cầu Vĩnh Tuy, cây cầu dài và rộng nhất Thủ đô, được gắn biển chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.


Ngôi trường được xây dựng bằng tiền tích luỹ nhiều năm của Trường và tiền vốn góp của cổ đông. Ngôi trường là niềm tự hào, là ước mơ của cán bộ, thầy cô giáo, cổ đông và các thế hệ sinh viên.


Trường gồm khu giảng đường đáp ứng nhu cầu học cho gần 10 ngàn sinh viên học 2 ca/ngày, đủ chỗ làm việc cho gần 500 cán bộ, giáo viên. Một hội trường hơn 800 chỗ ngồi, có máy lạnh, được trang bị thiết bị khá hiện đại đáp ứng nhu cầu họp, khai bế giảng, biểu diễn văn nghệ, đón sinh viên nhập học một cách chủ động và thoải mái.

Số máy tính của Trường hiện có 50 phòng gần 2100 cái, máy in 118 chiếc, máy chiếu đa năng, máy chiếu hắt: 110 chiếc, loa - ampli: 65 chiếc, đài catset: 155 chiếc và camera: 34 chiếc. Số lượng máy tính của Trường vào loại lớn nhất trong các trường đại học. Hai môn Tin học và Tiếng Anh được trang bị máy tính nhiều nhất, đảm bảo khi lên lớp mỗi sinh viên có một máy tính sử dụng. Do đó trình độ tin học và tiếng Anh của sinh viên ra trường khá hơn các trường khác.

Trường có một Thư viện đặt ở tầng 6 và 7 nhà A, với diện tích gần 500m2, có 5.300 đầu sách với 25.882 cuốn. Sách điện tử có 6.983 đầu sách, trong đó sách tiếng Việt 5.468, tiếng nước ngoài 1.515 đầu sách. Thư viện có 100 máy tính được nối mạng đặt ở 2 phòng có máy lạnh, sinh viên tra cứu miễn phí. Thời gian thi học kỳ, Thư viện mở cửa sáng, trưa, chiều, tối phục vụ sinh viên tham khảo tài liệu. Thư viện của Trường có hầu hết các loại báo, tạp chí trong nước và một số tạp chí nước ngoài, đáp ứng nhu cầu đọc và xem của cán bộ, giáo viên và sinh viên.

Phía trước nhà A và B trồng 2 hàng Cau Vua cao vút, cành lá đu đưa trước gió như sinh viên thì thầm tâm sự với nhau trong thời gian nghỉ giải lao giữa giờ. Chân tường xung quanh 2 tòa nhà được ốp gạch màu đỏ sẫm làm cho ngôi trường như chắc chắn và uy nghiêm hơn, đứng trên một bệ vững chắc.

Trường có 2 nhà ăn, một của cán bộ, giáo viên và một dành cho sinh viên, trang bị máy lạnh, phục vụ cho 350 lượt người. Có nhà ăn trong trường, cán bộ, giáo viên và sinh viên có nơi ăn mát mẻ và quan trọng hơn là bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Những ai có dịp ăn tại nhà ăn của Trường đều cho rằng nhà ăn sạch sẽ, mát mẻ, món ăn chế biến ngon, cơm dẻo, giá rẻ hơn bên ngoài nhiều. Đây là sự động viên, khích lệ chị em nhà ăn.

Nhìn từ xa, ngôi trường cao, đồ sộ, vừa hiện đại, vừa cổ kính, có sức lôi cuốn, mời gọi người ghé thăm Trường. Đây là địa chỉ tin cậy, mỗi mùa thi tuyển sinh đại học đã có gần 20 ngàn thí sinh đăng ký dự thi.

Sau gần 5 năm lo thủ tục, Vĩnh Tuy II đang khẩn trương thi công, phấn đấu đưa công trình vào sử dụng tháng 7 năm 2012. Vĩnh Tuy II gồm 2 đơn nguyên cao 8 - 9 tầng có diện tích xây dựng 20.000m2 đủ chỗ học tập cho 10.000 sinh viên, với trang bị hiện đại, đáp ứng cho nhu cầu dạy và học ngày càng cao.

Khi hoàn thành xây dựng, trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội gồm 4 ngôi nhà đồ sộ, hiện đại đứng quây quần bên nhau, đảm bảo đủ chỗ học cho 20.000 sinh viên và nơi làm việc cho gần 500 cán bộ quản lý. Quy mô của Trường vào loại lớn nhất trong các trường đại học ngoài công lập của cả nước.

Nơi đây sẽ trở thành "địa chỉ đỏ" trong hệ thống các trường đại học: Ngành nghề đào tạo phong phú, cấp học đa dạng, phòng học thoáng mát, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, trình độ cao, chương trình đào tạo ngày càng hoàn thiện.

Những điều nói trên tô điểm thêm cho Trường đẹp hơn, một không khí học tập sôi nổi, môi trường sư phạm hấp dẫn. Trường sẽ là một bông hoa ngát hương trong vườn hoa muôn sắc màu giữa Thủ đô Hà Nội 1000 năm tuổi.

Ở tuổi 15, độ tuổi tràn đầy sinh lực, đang phát triển mạnh mẽ, mà đã có trong tay giá trị tài sản 342 tỉ đồng, một con số đáng tự hào lắm chứ. Đó là công sức đóng góp của nhiều thế hệ thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên nhà trường, của hàng chục ngàn sinh viên, của gần một ngàn cổ đông.

Thành quả đạt được hôm nay rất đáng tự hào, tạo niềm tin vững chắc cho nhà trường phát triển rực rỡ hơn nữa, toàn diện hơn nữa trong tương lai không xa. Chúng ta cùng nhau phấn đấu hơn nữa để biến niềm tin đó thành sự thật trong cuộc sống. Đó là tất cả tâm tư, tình cảm của đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên và sinh viên toàn trường của ngày hôm nay và cả mai sau./.

Công tác tuyển sinh

đăng 04:20, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

CÔNG TÁC TUYỂN SINH

Phó hiệu trưởng GS. TS. Vũ Văn Hóa

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã 15 tuổi. Dưới sự lãnh đạo của Hội đồng Quản trị và Ban Giám hiệu, đứng đầu là GS. Trần Phương, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cùng với sự đóng góp công sức và lao động của các cổ đông, cán bộ, giảng viên, công nhân viên và sinh viên, trường đã đạt được nhiều thành tựu đáng trân trọng, được Đảng và Nhà nước ghi nhận; tên tuổi của trường ngày càng được xã hội biết đến. Kết quả này được minh chứng rõ nhất bằng việc không ngừng mở rộng quy mô đào tạo.

Ngay từ khi mới thành lập (1996), trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã chủ trương tiến hành công tác tuyển sinh. Là một trường đại học dân lập, văn phòng, lớp học còn thuê mượn, mức học phí lại khá cao so với nhiều trường lúc đó, chủ trương của Ban Giám hiệu không xét tuyển, mà tổ chức tuyển sinh, là quyết định táo bạo, sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược. Táo bạo, vì việc tổ chức tuyển sinh là khá tốn kém, phải thuê nhiều địa điểm thi, có năm lên tới 12-14 điểm với trên 500 phòng thi; phải huy động trên 1.000 giảng viên, cán bộ, nhân viên của trường tham gia và nhờ thêm nhiều cán bộ, giảng viên của các trường đại học khác. Công tác tuyển sinh của trường trong suốt 15 năm qua chưa để xẩy ra những sai sót, được Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá cao. Khóa đầu tiên, trường tuyển được 850 sinh viên đại học hệ chính quy. Phần lớn họ là thí sinh có hộ khẩu Hà Nội. Từ đó, cho đến năm học 2003-2004, trường vẫn cử cán bộ đến các tỉnh tuyên truyền, quảng bá và thu hút sinh viên cho trường. Số sinh viên khóa sau tăng hơn khóa trước, nhưng chưa ổn định: K1: 850, K2: 896, K3: 1071, K4: 1320 v K5: 1246.

Sợi chỉ đỏ xuyên suốt hoạt động của trường là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo. Để đạt được điều này, trường thiết kế chương trình đào tạo tiên tiến, độc đáo, phù hợp với yêu cầu của đất nước; thường xuyên  tăng cường đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục có trình độ và kinh nghiệm. Đồng thời, trường chủ trương đa dạng hóa ngành nghề và hình thức đào tạo cũng như tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật để đảm bảo chất lượng đào tạo. Chương trình đào tạo của trường được thiết kế bám sát thực tiễn Việt Nam có tham khảo các chương trình đào tạo của các nước tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt thời lượng dành cho hai môn học tiếng Anh và Tin học được bố trí cao hơn nhiều trường không chuyên ngữ và chuyên tin khác. Chương trình của trường có tác dụng giúp sinh viên sau khi tốt nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm, vì thế đã thu hút, hấp dẫn các bạn trẻ thi tuyển vào trường ngày càng nhiều.

Năm học 1996-1997 trường mới có 16 giảng viên cơ hữu. Đến nay tổng số giảng viên quy đổi của tòan trường khoảng 700 người, trong đó giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ chiếm 60,95%. Giảng viên cơ hữu chiếm 80% (565 người), đảm nhận trên 80% khối lượng giảng dạy và giảng viên thỉnh giảng chiếm 20% (135 người), đảm nhận gần 20% khối lượng giảng dạy. Nhiều giảng viên đang và đã từng lá các nhà sư phạm, các nhà khoa học và quản lý có tiếng của các trường đại học, các viện nghiên cứu, các bộ, ngành và các doanh nghiệp, có nhiều kinh nghiệm và tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Không ít người trong số này đã giữ những cương vị lãnh đạo, quản lý cao trong các cơ quan Đảng, Chính quyền, đoàn thể, trường đại học và doanh nghiệp. Đó là điều kiện tốt đối với giáo dục và đào tạo sinh viên không chỉ về chuyên môn, mà cả về phẩm chất, đạo đức và kinh nghiệm sống.


Quy mô sinh viên của trường đặc biệt bắt đầu tăng nhanh khi trường chủ trương mở thêm các ngành nghề, các hệ và hình thức đào tạo. Từ 3 ngành đào tạo trình độ đại học hệ chính quy trong 7 năm đầu, đến nay đã mở thêm 10 ngành, đưa tổng số ngành đào tạo đại học hệ chính quy lên 13 ngành gồm: Quản lý Kinh doanh, Kế toán, Tài chính - Ngân hàng (năm học 2010 - 2011 đã tách thành 2 ngành riêng biệt là ngành Tài chính và ngành Ngân hàng), Thương mại, Du lịch, Cơ - Điện tử, Điện - Điện tử, Kiến trúc, Xây dựng, Công nghệ Thông tin, tiếng Anh và tiếng Trung, với số sinh viên đại học chính quy năm học 2010-2011 là  1.394. Một điều không kém phần hấp dẫn đối với người học là khi nhập trường cho đến hết năm học thứ nhất, sinh viên được quyền lựa chọn học ngành nghề mình yêu thích. Tính dân chủ này là một trong những ưu việt của trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Từ năm 2003 trường mở hai hệ đào tạo cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, hiện đang có 2.742 sinh viên theo học. Đặc biệt từ khi Bộ cho phép trường đào tạo liên thông từ cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp lên đại học, thì hai hệ đào tạo này càng hấp dẫn các bạn trẻ. Từ 2007 đến 2011 đã có 9.016 sinh viên theo học hình thức liên thông.


Hệ đào tạo đại học tại chức (vừa học vừa làm) của trường ra đời từ năm 2007, tính đến 31.3.2011 đã thu hút 3.863 sinh viên ở nhiều nơi, như Hà Nội, Lào Cai, Lai Châu, Bắc Cạn, Phú Thọ, Thanh Hóa, Thái Bình,…


Trường đã sớm triển khai (từ năm 2000) liên kết đào tạo với các trường đại học nước ngòai. Đã gửi đi du học 886 sinh viên đại học và 81 học viên cao học ở các nước và vùng lãnh thổ, như Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Australia, Singapore,... đào tạo đại học từ xa (E-learning) của trường tuy mới ra đời, nhưng đã góp cho trường: 475 sinh viên.

Đào tạo cao học của trường đã tuyển sinh được 6 khóa ngành Quản trị kinh doanh với 386 học viên nhập học. Năm nay (2011) Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép trường đào tạo hai ngành mới: Kinh tế, tài chính - Ngân hàng và Kế toán. Điều này thể hiện sự tin tưởng và triển vọng lớn về đào tạo sau đại học của trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội.


Như vậy, từ khi thành lập tới nay, trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã và đang đào tạo 52.794 sinh viên và học viên thuộc 4 cấp đào tạo. Trong đó, đại học có 44.439 sinh viên, chiếm 86,6%; cao đẳng có 2.782 sinh viên, chiếm 5,4%; trung cấp chuyên nghiệp có 3.672 sinh viên, chiếm 7,2%; cao học có 386 học viên, chiếm 0,8%.  Đó là những kết quả và nguyên nhân thành công của công tác tuyển sinh mở rộng quy mô đào tạo của trường. Những số liệu trên là món quà quý giá nhất chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội./.

1-10 of 13

Comments