Đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo Kế toán và Kiểm toán

đăng 04:33, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le   [ đã cập nhật 04:45, 25 thg 3, 2013 ]

Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS. TS. Đặng Văn Thanh - Chủ nhiệm Khoa Kế toán về đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo Kế toán và Kiểm toán.

Có một thực tế

Trong tổng số hơn 410 trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam (tính đến 2011), hiện giờ trăm trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề ở khắp các địa phương trong hơn 300 trường có đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán. Đó là chưa tính tới hàng cả nước. Các trường kinh tế có chuyên ngành đào tạo kế toán và kiểm toán đã đành, không ít trường không dính dáng đến kinh tế, chỉ là kỹ thuật hoặc khoa học cơ bản, cũng tham gia đào tạo kế toán và kiểm toán. Hình như các trường tư thục và dân lập đào tạo đa ngành đều có chuyên ngành kế toán. Nhiều trường kinh tế đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán với đủ mọi hệ đào tạo và cấp bậc đào tạo, từ trung cấp, cao đẳng, liên thông đại học, đại học chính quy, cao học (thạc sĩ và tiến sĩ) với đủ các hệ chính quy, tại chức, đào tạo từ xa. Mỗi năm có cả vạn sinh viên, học sinh chuyên ngành kế toán, kiểm toán ra trường. Đó là chưa kể tới hàng trăm lớp dạy nghề kế toán và kiểm toán do các trường lớp, các trung tâm, các doanh nghiệp tổ chức dưới mọi hình thức. Chuyên ngành kế toán và kiểm toán vẫn là chuyên ngành hấp dẫn, thu hút nhiều thí sinh dự thi hàng năm. Có trường kinh tế, số sinh viên chuyên ngành kế toán, kiểm toán chiếm trên dưới một nửa tổng số sinh viên. Ở nhiều trường đại học, điểm trúng tuyển vào chuyên ngành kế toán, kiểm toán vẫn cao nhất nhì so với các chuyên ngành khác. Có trường, số sinh viên trúng tuyển chỉ bằng 1/20, 1/30 thí sinh dự thi. Ngay ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, số sinh viên theo học chuyên ngành kế toán và kiểm toán chiếm xấp xỉ 1/2 số sinh viên của trường.

Điều đó thể hiện nhu cầu về kế toán, kiểm toán của xã hội còn rất lớn và đây cũng là một nghề “hot”, được giới trẻ quan tâm. Điều đó cũng hoàn toàn thực tế trong một nền kinh tế đang phát triển. Đến nay chưa thống kê đầy đủ về số người đang làm nghề kế toán ở Việt Nam. Nhưng với phép tính nhỏ: mỗi doanh nghiệp có 1 - 2 người làm kế toán, mỗi đơn vị hành chính sự nghiệp, mỗi cấp chính quyền có 1 người làm kế toán, thì với gần 500.000 doanh nghiệp, với hàng vạn tổ chức, đơn vị hành chính sự nghiệp, các cấp chính quyền, các cấp ngân sách từ trung ương đến địa phương của 63 tỉnh, thành, hơn 600 quận, huyện, 13 nghìn xã, phường, thì đã có chắc chắn không dưới 2 triệu người đang làm nghề kế toán, kiểm toán. Chỉ cần mỗi năm tăng, giảm 5 - 10%, thì đã phải đào tạo mới cả vạn người làm kế toán, kiểm toán.

Rõ ràng nhu cầu về người làm kế toán, về đào tạo người làm kế toán là rất lớn, thường xuyên, liên tục và ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn.

Yêu cầu mới đối với nghề và đối với người làm kế toán, kiểm toán

Về bản chất, kế toán là công cụ quản lý kinh - tế tài chính hữu ích của các nhà quản lý, chủ đầu tư, chủ doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường, kế toán có chức năng đảm bảo và tổ chức hệ thông tin kinh tế - tài chính tin cậy phục vụ các quyết định kinh tế - tài chính, thỏa mãn yêu cầu quản trị kinh doanh. Cùng với sự phát triển của đất nước, của nền kinh tế, cùng với sự đổi mới kinh tế - tài chính, hoạt động kế toán, kiểm toán của Việt Nam ngày càng được đổi mới, tiếp cận và hoà nhập với các nguyên tắc, thông lệ, chuẩn mực phổ biến trên thế giới.

Trước yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi và trong tiến trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, kế toán không thuần túy là công cụ quản lý, là việc ghi chép, xử lý thông tin, mà đã phát triển và trở thành một ngành, một loại hình dịch vụ, thương mại dịch vụ. Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam được phát triển cùng với việc tiếp tục tạo lập hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý, tăng cường hoạt động các tổ chức nghề nghiệp. Phát triển các hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán theo xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, tạo dựng và mở rộng giao lưu nghề nghiệp. Trong kinh tế thị trường, nhà nước quản lý và điều hành kinh tế bằng luật pháp. Nhà nước không phân biệt đối xử. Các nhà đầu tư, doanh nghiệp bình đẳng, được làm những gì luật pháp không cấm. Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh. Doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự quyết định.  Doanh nghiệp được sử dung các dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ tư vấn, quản trị, thuế, hải quan, kế toán, kiểm toán,..

Hơn nữa, thời đại ngày nay là thời đại của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghề thông tin đang phát triển như vũ bão, hỗ trợ quan trọng và đắc lực cho quản trị kinh doanh. Kế toán là ngành và lĩnh vực sớm tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ thay thế phần lớn công việc mang tính nghiệp vụ của những người làm kế toán và kiểm toán. Điều đó ảnh hưởng đáng kể tới tính chất công việc kế toán, đặc biệt là nội dung và cách thức đào tạo về kế toán.

Yêu cầu mới đối với nghề kế toán

Trong nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, các nhà kế toán cũng phải đáp ứng những yêu cầu mới:

- Tính chuyên nghiệp và trách nhiệm xã hội của kế toán, kiểm toán. Người làm nghề kế toán, kiểm toán phải là những chuyên gia tài chính, có thể hành nghề độc lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, kế toán và kiểm toán.

-Về năng lực chuyên môn: có hiểu biết về kinh tế - tài chính, kỹ năng tổ chức và xử lý thông tin tài chính, kiểm tra và đánh giá thông tin, đưa ra các ý kiến nhận xét, tư vấn về tài chính cho các nhà quản lý; có trình độ tổ chức hoạt động tài chính, kế toán, điều hành công việc tài chính, kế toán.

- Về đạo đức nghề nghiệp: là nghề nghiệp gắn liền con số, có quan hệ chặt chẽ với các quyết định kinh tế - tài chính, vì vậy đòi hỏi cao về tính trung  thực, khách quan, bản lĩnh nghề nghiệp. Đây cũng là đạo đức nghề nghiệp của những người làm nghề kế toán và kiểm toán.

Trong lộ trình hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã và đang cải cách một cách căn bản, toàn diện, được xây dựng trên cơ sở tiếp cận và hoà nhập có chọn lọc với những nguyên tắc, thông lệ phổ biến của quốc tế về kế toán. Cùng với quá trình tạo dựng khuôn khổ pháp lý và ban hành các hệ thống kế toán và kiểm toán, việc đào tạo bồi dưỡng những người làm kế toán và kiểm toán cũng cần được đổi mới rất căn bản.

Việt Nam đã phát triển hệ thống kế toán, kiểm toán với mục tiêu: thiết lập và phát triển hệ thống kế toán, kiểm toán của Việt Nam trong một khuôn khổ pháp lý và trình độ nghiệp vụ chuyên môn đạt được phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước, tiếp cận và hoà nhập với các nước trên thế giới và trong khu vực; từng bước tạo cơ sở pháp lý cho việc công nhận của quốc tế đối với hệ thống kế toán Việt Nam.

Từ năm 1996 đã tiến hành nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các chuẩn mực quốc tế về kế toán (IAS), chuẩn mực quốc tế về kiểm toán, lựa chọn các chuẩn mực có khả năng áp dụng tại Việt Nam và xúc tiến việc soạn thảo và công bố hệ thống chuẩn mực kế toán việt Nam (VAS), chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.

Hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán Việt Nam không ngừng được cải thiện về chất lượng dịch vụ và đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế quốc dân. Các công ty dịch vụ kế toán và kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp về luật pháp, chế độ, thể chế tài chính, kế toán của nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ kế toán, tính thuế, lập báo cáo tài chính.

Nhằm đáp ứng giữa nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, thuế của nền kinh tế Việt Nam trong từng giai đoạn, định hướng phát triển của ngành dịch vụ này trong thời gian tới là phải tiếp tục củng cố và tăng cường phát triển cả về số lượng và chất lượng hoạt động; đồng thời từng bước tham gia tiến trình mở cửa và hội nhập với hoạt động nghề nghiệp của các nước trong khu vực và thế giới. Cần hướng tới mục tiêu công nhận quốc tế về hệ thống kế toán và kiểm toán Việt Nam, tạo dựng đầy đủ khuôn khổ pháp lý cho hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán; tiếp tục mở rộng thị trường, phát triển thêm số lượng và tăng cường chất lượng dịch vụ của các tổ chức dịch vụ và tổ chức nghề nghiệp hiện có ở Việt Nam. Theo các cam kết quốc tế, Việt Nam sẽ từng bước mở cửa lĩnh vực kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính với mục tiêu mở cửa rộng rãi vào năm 2020.

Kế toán, kiểm toán - nghề dịch vụ cao cấp

Thực tế những năm qua cho thấy, dịch vụ kế toán, kiểm toán đang chất chứa tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Việt Nam đã có hơn 500 nghìn doanh nghiệp hoạt động, trong đó có nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ. Các công ty sẽ không cần thiết phải tuyển dụng nhân viên kế toán hoặc kế toán trưởng. Thuê dịch vụ kế toán, thuê kế toán trưởng sẽ là giải pháp tối ưu trong việc tiết kiệm chi phí và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong hoạt động kế toán, tài chính. Với tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa đang chiếm tới 97% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh trên cả nước và chiếm tới 96% số doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, đủ thấy tiềm năng cực kỳ phát triển của dịch vụ kế toán trong tương lai gần.

Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo kế toán, kiểm toán - một nhiệm vụ cấp bách

Từ yêu cầu và thực tế trên, để có những chuyên gia kế toán và kiểm toán được đào tạo ở bậc đại học, đòi hỏi phải đổi mới căn bản chương trình, nội dung và phương thức đào tạo kế toán và kiểm toán.

Về chương trình đào tạo, cần đa dạng hơn, linh hoạt hơn cho các chuyên ngành kế toán và kiểm toán.

Nội dung đào tạo cần phong phú về kiến thức, vừa đảm bảo những kiến thức lý thuyết rất cơ bản, có tính nguyên lý, đạo lý và khoa học, vừa có tính thực tiễn. Khoa học kế toán có tính độc lập và khá hoàn chỉnh cả về nội dung và phương pháp luận, nhưng dựa trên nền tảng của khoa học quản lý và lý thuyết tài chính, Vì vậy, nội dung đào tạo không chỉ bao hàm những kiến thức mang tính nguyên lý, nguyên tắc của kế toán, kiểm toán, không chỉ kỹ năng về phương pháp kế toán, kiểm toán, mà rất cần những kiến thức về lý thuyết kinh tế, quản lý kinh tế và tài chính... Kiến thức về kế toán và kiểm toán không chỉ dừng lại ở phương pháp kế toán, kiểm toán, phương pháp xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính, mà quan trọng hơn là kỹ năng tổ chức thu thập, đánh giá thông tin, kỹ năng sử dụng thông tin do kế toán xử lý và cung cấp, do kiểm toán đã kiểm tra đánh giá và xác nhận. Con số của kế toán phải là con số biết nói, con số phản ảnh thực trạng kinh doanh, thực trạng tài chính của tổ chức, doanh nghiệp. Cần phải cung cấp cho người học kỹ năng nhìn nhận, đánh giá và phân tích thông tin do kế toán và kiểm toán cung cấp.

Phương thức đạo tạo cũng cần thay đổi căn bản, hạn chế cách đào tạo truyền thống, năng về lý thuyết, xa rời thực tế, dẫn đến sinh viên ra trường chậm làm quen với công việc. Không ít trường hợp phải đào tạo thêm, đào tạo lại ngay trong quá trình làm việc. Chấm dứt cách giảng dạy thụ động, người học buộc phải coi các chế độ kế toán do nhà nước quy định là kiến thức kế toán chuẩn. Cần phải tạo cho người học hiểu và phát triển lý luận mang tính bản chất của kế toán và kiểm toán. Chế độ kế toán hay các quy định kế toán, kiểm toán của nhà nước trong từng thời kỳ, trong từng cơ chế quản lý chỉ là sự hiện thân, sự minh chứng cho những nguyên lý mang tính bản chất của kế toán. Hãy chọn phương pháp giảng dạy và phương pháp học tích cực đối với môn học kế toán và kiểm toán. Tăng cường các bài tập tình huống, các trao đổi hai chiều giữa người dạy và người học. Thành lập phòng kế toán ảo ngay trong trường, tạo cơ hội để người học sớm tiếp cận các hoạt động thực tế, các yếu tố, các công việc, các phương pháp, các giấy tờ, chứng tử, sổ kế toán và mẫu biểu thuộc các phần hành kế toán, kiểm toán.

Đây là nội dung quan trọng có tính quyết định chất lượng đào tạo. Vì vậy, đối với giảng viên, cũng cần có những hiểu biết thực tế. Trong quá trình đào tạo nên có sự kết hợp giữa giảng dạy lý thuyết với những báo cáo thực tế của các chuyên gia kinh tế, các doanh nhân, các nhà kế toán, kế toán trưởng, đưa hơi thở của cuộc sống thực tế, của nghề nghiệp vào quá trình đào tạo.

Khả năng và hiện thực

Chuyên ngành kế toán được hình thành ở Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội ngay từ năm đầu thành lập với tư cách là một chuyên ngành đào tạo trong Khoa Quản trị kinh doanh và sau đó là Khoa Tài chính - Kế toán. Từ năm học 2007-2008, chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán đã được tách ra, độc lập và Khoa Kế toán được thành lập. Những năm qua, với 8 môn học Kế toán tài chính, Kế toán quản trị, Kế toán công, Kiểm toán và Phân tích tài chính, hơn 10 giảng viên cơ hữu và hơn 10 giảng viên thỉnh giảng đã tham gia đào tạo hàng nghìn cử nhân kế toán cho đất nước. Là một chuyên ngành, một ngành học lớn của trường, để đổi mới chương trình, nội dung giảng dạy, nâng cao chất lương đào tạo, sẽ có rất nhiều vấn đề phải suy nghĩ, phải trăn trở, từ nhận thức, quan điểm, cách làm để đổi mới căn bản hoạt động đào tạo chuyên ngành kế toán và kiểm toán. Ý thức được những đòi hỏi của thực tế và xu hướng phát triển tất yếu của quy mô, chất lượng đào tạo, ba năm qua, dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường, được sự chỉ đạo và khích lệ của Giáo sư Hiệu trưởng, sự hợp tác và hỗ viên trợ của các phòng ban chức năng, các khoa chuyên ngành khác, tập thể cán bộ giáo Khoa Kế toán đã tập trung xây dựng chương trình 19 môn học kế toán, kiểm toán và phân tích tài chính, trong đó có 8 môn học bắt buộc, 10 môn học tự chọn theo phương thức đào tạo tín chỉ. Có không ít môn học mới, hàm chứa những chủ đề và kiến thức mới có trong chương trình đào tạo của rất ít trường đại học, nhưng lại rất cần cho hành nghề và hoạt động nghề nghiệp của những người làm nghề kế toán và kiểm toán, như các môn học Kế toán tập đoàn kinh tế, Kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hành nghề kế toán, hành nghề kiểm toán, Pháp luật về kế toán... Ý thức được vị trí, tầm quan trọng của chương trình môn học và giáo trình môn học trong chất lượng đào tạo và uy tín, vị thế của một trường, một ngành đào tạo, trên cơ sở chương trình môn học đã được phê duyệt, giảng viên của Khoa đã và đang khẩn trương tổ chức biên soạn bài giảng, giáo trình để lưu hành chính thức, phục vụ giảng dạy và học tập. Đây sẽ là thành tựu lớn của Khoa trên bước đường phát triển. Bên cạnh đó, hệ thống bài tập, đề thi học phần cũng đã được rà soát, biện soạn bổ sung, biên soạn mới với chất lượng và độ tin cậy cao hơn; hàng nghìn câu hỏi đã được biên soạn và lưu hành, đảm bảo đúng quy định của nhà trường; có ít nhất 5 câu hỏi cho một tiết giảng. Để công cuộc đổi mới thành công, lực lượng giảng viên của Khoa đã được tăng cường cả ba thế hệ: đội ngũ giảng viên đã có thâm niên giảng dạy vài chục năm, giảng viên đang độ chín và sung sức, giảng viên mới vào nghề. Đến nay, Khoa đã có 30 giảng viên cơ hữu, 25 giảng viên thỉnh giảng. Trong 30 giảng viên cơ hữu có 3 giáo sư và phó giáo sư. 7 tiến sĩ,  8 thạc sĩ và gần 10 giảng viên đang làm nghiên cứu sinh, học cao học. Đây là đội ngũ giảng viên của một khoa với năng lực, trí tuệ và học hàm, học vị đủ sức làm tròn sứ mạng đào tào kế toán, kiểm toán hiện tại và tương lai của trường. Chắc chắn các nhà giáo, các nhà quản lý của Khoa sẽ làm được, làm tốt công cuộc đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo kế toán và kiểm toán xứng tầm cùng các trường đại học trong cả nước.

Comments