Mười lăm năm phấn đấu bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo

đăng 04:29, 4 thg 11, 2012 bởi Son Le

MƯỜI LĂM NĂM PHẤN ĐẤU
BẢO ĐẢM VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Nguyên Phó hiệu trưởng GS. TSKH. Phan Văn Tiệm



Mười lăm năm phát triển, trưởng thành là một giai đoạn mà tập thể thầy và trò, cán bộ quản lý Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (tiền thân là Trường Đại học Quản lý và Kinh doanh Hà Nội) phấn đấu không ngừng bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng của các hệ, các cấp, các hình thức và tất cả các ngành đào tạo.


Thành tựu về chất lượng đào tạo đã, đang và mãi mãi sẽ là yếu tố quyết định uy tín và ảnh hưởng của trường trong cộng đồng các trường đại học trong và ngoài nước.


Nguồn gốc sâu xa tạo nên những thành tựu này là các quyết sách chiến lược phát triển trường đã được quyết định trong Hội đồng Sáng lập (nhóm trí thức cốt cán của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam) do Giáo sư, Chủ tịch Hội đồng Trần Phương đề xướng. Đó là các quyết sách sau đây:
Một là, quyết sách về xây dựng một trường đại học đa ngành bắt đầu từ ngành đào tạo nhân lực Quản trị kinh doanh (Quản lý kinh doanh) bậc đại học chính quy. Trên đường phát triển sẽ tích lũy kinh nghiệm và nghiên cứu nhu cầu về các loại nhân lực của một vài thập kỷ sắp tới, chuyển dần thành đa ngành về kinh tế: Tài chính, Ngân hàng, Kế toán, Du lịch, Thương mại, v.v...; tiến tới phát triển các ngành thuộc lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, bắt đầu từ Công nghệ thông tin và các ngành thuộc lĩnh vực Ngữ văn, bắt đầu từ tiếng Anh kinh doanh. Ngày nay, sau 15 năm, đã hình thành một trường đại học đa ngành thuộc tốp đầu của cả nước, nhất là về các ngành đào tạo trong lĩnh vực quản lý kinh doanh theo hướng thực hành - ứng dụng.


Hai là, quyết sách đào tạo nhân lực góp phần đáp ứng yêu cầu trang bị một giàn cán bộ cốt cán, bắt đầu từ các ngành quản trị kinh doanh phát triển sang lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ ở tầm vi mô: Công ty, doanh nghiệp, trước hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (cả công ty gia đình, siêu nhỏ). Trong thực tiễn, sinh viên của trường sẽ nắm giữ các vai trò khác nhau về nghề quản lý các loại doanh nghiệp lớn, cực lớn. Những năm tháng ở trường là nhằm tạo ra các cơ sở vững chắc cho triển vọng đó.

Ba là, quyết sách đào tạo cán bộ kinh doanh và công nghệ thực hành - ứng dụng, trước hết là ở doanh nghiệp theo nghề quản lý kinh doanh và ứng dụng công nghệ.


Bốn là, quyết sách đào tạo kỹ năng cơ bản là thành thạo nghề nghiệp - chuyên môn nghiệp vụ - kỹ thuật, công nghệ cùng với hai kỹ năng phụ trợ: Ngoại ngữ (trước hết là tiếng Anh kinh doanh) và kỹ năng sử dụng kỹ thuật vi tính, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.


Bốn quyết sách chiến lược trên đây đã là cột trụ của mô hình đào tạo nhân lực của trường, vận hành có hiệu quả trong 15 năm qua. Mô hình đó góp phần quyết định cơ cấu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, dẫn đến chất lượng đào tạo được nâng cao vượt trội qua mỗi khóa đào tạo, phát huy uy tín, thương hiệu của trường. Đó cũng là những quan điểm cơ bản chi phối mỗi hoạt động đào tạo của trường ở các ngành, các cấp, các hệ (lĩnh vực) và hình thức, phương pháp thực hiện toàn bộ quy trình đào tạo toàn khóa.


Trong giai đoạn vài năm gần đây, sau nhiều vòng nghiên cứu, thảo luận, tìm tòi, đội ngũ cốt cán, giảng viên, cán bộ quản lý với sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Hiệu trưởng đã tạo ra quyết sách lớn thứ năm: Chuyển từ đào tạo theo niên chế qua học chế tín chỉ với những bước đi thích hợp. Đó là hai giai  đoạn: Sau học kỳ đầu theo chương trình đại cương do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và các học phần thuộc kiến thức cơ sở theo ngành đào tạo do trường quyết định. Từ học kỳ 7, sinh viên đại học chính quy được lựa chọn đăng ký học các chuyên ngành (thường là 3 - 5 chuyên ngành cho mỗi ngành). Mỗi chuyên ngành gồm 3 - 5 học phần chuyên sâu của từng ngành đào tạo. Quá trình chuyển qua học chế tín chỉ tuy mới bắt đầu, nhưng triển vọng rất lớn đối với việc quán triệt quyết sách đào tạo nghề nghiệp với 3 loại kỹ năng, trong đó kỹ năng chuyên môn - kỹ thuật là cơ bản. Bước chuyển này tạo ra khả năng nâng cao chất lượng đào tạo, tiến thêm mức mới trong giai đoạn 15 năm thứ hai của trường (2011 - 2025).


Ban lãnh đạo trường, đứng đầu là GS. Hiệu trưởng Trần Phương, đã đưa ra phương hướng cơ bản của thời kỳ phát triển sau 15 năm đầu là chuyển mạnh sang phát triển chiều sâu, lấy chất lượng đào tạo làm đầu. Do vậy khi đã đánh giá chính xác nguồn gốc tạo ra thành công về chất lượng đào tạo của 12 khóa đại học chính quy và chất lượng đầu ra của các cấp, các hệ và các hình thức đào tạo khác trong 15 năm qua, cần xác định rõ những giải pháp cơ bản đã được áp dụng ở các khâu của tòan bộ quá trình đào tạo của trường. Nhìn tổng quát, có thể thấy 15 năm qua trường đã kiên trì thực hiện hàng loạt giải pháp rất căn bản. Sau đây là một số giải pháp lớn.


Trước hết, ngay từ trước khi chiêu sinh Khóa I (1995 - 1996), những người lãnh đạo và đội ngũ cốt cán đã đặt ra ưu tiên số một để mở trường là xác định một số chương trình đào tạo cho vài ngành mở đầu của trường. Có thể nói, một chương trình đào tạo khoa học, hợp lý phù hợp với thực tiễn, tiếp cận được thành tựu đào tạo đại học tiên tiến trên thế giới là tiền đề có ý nghĩa quyết định thành công của quá trình đào tạo. Một chương trình có chất lượng là chương trình có cơ cấu kiến thức hợp lý, chứa đựng những kiến thức hiện đại, chống lạc hậu, sáo mòn, có tác dụng chuẩn bị kiến thức và đặc biệt là kỹ năng cơ bản phù hợp với các “chuẩn đầu ra” do trường đã xác định. Chương trình đào tạo quyết định chất lượng đào tạo của trường, của từng ngành đào tạo. Trường đã dày công tham khảo hàng trăm chương trình đào tạo có liên quan của hàng chục trường đại học danh tiếng của Mỹ, Tây âu, Úc, một số nước châu á và Đông Nam á; từ đó kết hợp với thực tiễn Việt Nam, những quy định cơ bản trong Luật Giáo dục và các văn bản pháp quy của Nhà nước, của ngành để xây dựng chương trình đại học chính quy đầu tiên của Khóa I cho ngành Quản lý kinh doanh. Đến nay trường đã qua 7 lần điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở kinh nghiệm đúc rút từ các khóa đào tạo để hình thành một hệ thống chương trình đào tạo của trường. Đó là điểm tựa và là điểm xuất phát đầu tiên để bố trí quá trình đào tạo trong trường (hệ thống chương trình lấy chương trình đại học chính quy làm cơ sở); là chỗ dựa để soạn thảo chương trình đào tạo các cấp học trong cùng ngành đào tạo, các phương thức đào tạo (trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học liên thông, tại chức, kể cả đào tạo từ xa).


Hệ thống chương trình đào tạo của trường hiện nay gồm có 13 chương trình với những đặc thù riêng theo ngành, nhưng đều dựa trên những chuẩn mực thống nhất, như khung thời gian của khóa học (4 - 4,5 năm/một khóa), có cả 3 phần kiến thức: Đại cương, cơ sở ngành và chuyên ngành tự chọn (học chế tín chỉ). Hiện tại ngành Quản lý kinh doanh có 6 chương trình, Kỹ thuật - công nghệ - 5 chương trình và Ngữ văn - 2 chương trình. Trong mỗi lĩnh vực thì giữa các ngành đào tạo cũng có sự khác biệt, không phải ở phần đại cương, mà chủ yếu là ở phần cơ sở ngành và đặc biệt khá rành rọt trong phần đào tạo chuyên sâu của mỗi ngành.


Tính hệ thống về chương trình đào tạo là cơ sở thực hiện đào tạo liên thông (từ trung cấp chuyên nghiệp lên cao đẳng, cao đẳng lên đại học. Đào tạo thạc sĩ kinh tế, với các chương trình Quản trị kinh doanh, Tài chính, Kế toán và Ngân hàng, thực sự là việc nối tiếp trên cơ sở cao hơn, sâu hơn kiến thức ngành đại học chính quy tương ứng.


Đặc điểm nổi bật của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội là không chỉ xây dựng chương trình cho ngành đào tạo (13 ngành) và chuyên ngành (2 - 4 chuyên ngành trong mỗi ngành), mà còn thiết kế chương trình cho từng môn học (học phần). Tất cả các chương trình ngành, chuyên ngành và học phần đều theo mẫu thống nhất của Bộ Giáo dục và đào tạo do các chuyên gia của Hội đồng Khoa học thuộc các Bộ môn, Khoa xây dựng, Giáo sư Hiệu trưởng duyệt, phê chuẩn ban hành, là cơ sở viết giáo trình, bài giảng cho tất cả các ngành, chuyên ngành, học phần.


Giải pháp lớn nổi bật là xử lý thích hợp yêu cầu đào tạo theo mục tiêu, mô  hình riêng có và các kỹ năng chuyên ngành của trường để hình thành gần 100 giáo trình, bài giảng hiện đang áp dụng có hiệu quả trong trường. Về nguyên tắc, giáo trình, bài giảng phải tuân thủ các chuẩn đầu ra của ngành, mục tiêu đào tạo của từng môn học và trên hết là phải bảo đảm định hướng đào tạo cán bộ thành thục nghề nghiệp theo mục tiêu của từng ngành và chuyên ngành đào tạo.


Trường áp dụng 3 loại giáo trình trên cơ sở bảo đảm tính khoa học, hiện đại, thực tiễn nghề nghiệp (kỹ năng chuyên môn) cho từng ngành học và môn học. Giáo trình (hoặc bài giảng) tự biên soạn do Hội đồng Khoa học chuyên ngành thẩm định, Hiệu trưởng duyệt phát hành, sử dụng trong trường. Nhiều môn học mới chưa kịp hoặc không cần thiết tự biên soạn thì lựa chọn các giáo trình hiện có trong nước và trên thế giới (dịch) để áp dụng. Có những bộ môn khoa học trên thế giới chưa hoặc không có giáo trình in sẵn, thì sử dụng các công trình chuyên ngành của các tác giả được phổ biến sử dụng ở các ngành tương tự (Thị trường chứng khóan, Khoa học lao động, Kinh tế học Vi mô, v.v...) trong các trường đại học danh tiếng ở nước ngòai.


Dù đã dầy công đầu tư liên tục hoàn thiện chương trình, giáo trình, không ngừng đổi mới cơ cấu kiến thức theo hướng hiện đại hơn, tay nghề trong chuẩn đầu ra thành thạo hơn, ba kỹ năng đều được xem trọng và vẫn coi kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là cơ bản nhất, song cơ cấu kiến thức trong các chương trình và giáo trình của trường đang có sự đòi hỏi hiện đại hơn nữa, thực hành nghề nghiệp chuyên sâu và thành thạo hơn nữa đối với sinh viên tốt nghiệp ra trường.


Chương trình tốt, giáo trình hay đều do đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý góp phần xây dựng nên. Họ là lực lượng cơ bản nhất, quyết định nhất, tạo nên chất lượng tốt của quá trình đào tạo. Ý thức được tầm quan trọng này, Ban lãnh đạo trường đã có chính sách chiêu hiền đãi sĩ khá thành công. Đó là thế hệ đã hết tuổi làm việc trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước. Họ là những trí thức còn sức khỏe và tâm huyết đào tạo thế hệ trẻ. Bên cạnh lớp cán bộ này trường còn có những giảng viên mới tốt nghiệp 5 - 10 năm ở các trường đại học trong và ngoài nước. Thế hệ lớn tuổi có thâm niên giảng dạy và quản lý đào tạo, quản lý kinh tế trên dưới 30 năm. Họ có học vị tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, phó giáo sư, giáo sư, nhà giáo ưu tú... Thế mạnh đó cho phép họ đảm đương những khâu quan trọng nhất trong quá trình đào tạo của trường, đồng thời kèm cặp hướng dẫn lớp giảng viên trẻ. Giảng viên trẻ tuy ít kinh nghiệm hơn, nhưng kiến thức và kỹ năng về quản trị kinh doanh và công nghệ hiện đại, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ (tiếng Anh) vượt trội sẽ bổ sung những yếu tố rất quý cho đội ngũ gồm nhiều thế hệ giảng viên và cán bộ quản lý. Sự kết hợp, bổ sung này làm nên sức mạnh của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội và chất lượng đào tạo của trường hiện nay và cả trong thời gian sắp đến.


Một giải pháp căn bản đã áp dụng trong 15 năm qua của trường là đổi mới cách thi và kiểm tra. Ngay từ kỳ thi tuyển sinh Khóa I (1996), trường đã từ bỏ cách thi tự luận và vấn đáp vốn là truyền thống ở các trường đại học Việt Nam. 15 năm nay trường đã áp dụng khá triệt để cách thi trắc nghiệm khách quan trên máy đối với tất cả các kỳ thi kết thúc học phần, học kỳ cho gần 100% môn học thuộc lĩnh vực đào tạo các ngành Quản lý kinh doanh, Công nghệ thông tin và nhiều môn học ngành tiếng Anh kinh doanh. Trong các ngành Kỹ thuật - công nghệ hình thức thi này đang được dần dần đưa vào áp dụng. Cách thi trắc nghiệm khách quan trên máy giúp rút ngắn thời gian thi, chấm bài, thống kê điểm kết quả học tập học kỳ, năm học và khóa học của sinh viên. Cách thi này kiểm tra gần như toàn phần môn học (học phần), chống “học tủ”, đặc biệt là hầu như triệt tiêu được tệ nạn “mua bài, bán điểm” ở các kỳ thi bằng phương pháp tự luận.


Trong 15 năm qua đội ngũ giảng viên, Hội đồng Khoa học Khoa, trường đã thẩm định và công bố áp dụng hơn 7 vạn câu hỏi thi trắc nghiệm khách quan trên máy. Đó là các công trình khoa học quý giá, góp phần đắc lực vào việc thúc đẩy phong trào tự học, nắm bắt có hệ thống nội dung khoa học của các môn học trong tuyệt đại bộ phận sinh viên, nhất là ở các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực quản lý kinh doanh.
Giải pháp lớn khác có tác dụng sâu sắc đến việc bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo của trường là một loạt quy chế được áp dụng thúc đẩy dạy và học theo phương pháp tích cực, lấy sinh viên làm trung tâm của quá trình đào tạo. Cho đến nay hầu như không tồn tại hiện tượng giảng bài bằng cách “dạy áp đặt, học thụ động” theo kiểu “thầy nói - trò ghi”.


Trường chủ trương giảm giờ giảng, tăng seminar, bài tập, mở rộng các hình thức áp dụng computer, projector và cả các kiểu “thực hành ảo” qua các mô hình mô phỏng bằng phim ảnh và các hình thức khác. Tất cả các học phần thuộc các chương trình đại cương, cơ sở ngành cũng như chuyên ngành thuộc tất cả các ngành đào tạo bắt buộc dành ít nhất 30% tổng thời lượng làm việc có hướng dẫn trên lớp cho khâu seminar, bài tập thực hành, đối thoại trực tiếp và thảo luận, thuyết trình chuyên đề tình huống theo từng chương, từng phần, từng học phần. Một số học phần áp dụng phương thức thăm quan hiện trường, kiến tập. Để tăng cường kỹ năng đọc, nói, viết, ngoài hệ thống giáo trình, tài liệu tất đọc, tài liệu tham khảo rộng, các học phần quan trọng, yêu cầu sinh viên viết tiểu luận và làm đề án thiết kế môn học (các ngành Kỹ thuật - công nghệ). Phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên với các hội nghị khoa học, các cuộc thi đã thúc đẩy tính tích cực trong phương pháp học của sinh viên. Các quy chế dạy và học này bổ sung cho hình thức thi trắc nghiệm khách quan trên máy, nâng cao tính chủ động trong học tập, nghiên cứu, nâng cao năng lực tư duy, tổng hợp và hình thành kiến thức và kỹ năng có tính hệ thống.


Đổi mới cách thực tập tốt nghiệp (cuối khóa) và thi tốt nghiệp là giải pháp rèn luyện kỹ năng nghiên cứu phân tích và tập dượt thực hành nghề nghiệp có hiệu quả đối với các ngành đào tạo.
Trong điều kiện các doanh nghiệp thực thi cơ chế thị trường, giữa trường và doanh nghiệp chưa hình thành quan hệ liên kết, hợp tác sản xuất - kinh doanh - nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong đào tạo. Trường đã đổi mới cách thực tập cuối khóa như sau đây:
- Chủ yếu sinh viên tự tìm cơ sở thực tập. Trong nhiều trường hợp thì đó là cơ sở tham quan, kiến tập, thậm chí là cơ sở cung cấp, sưu tầm tư liệu - số liệu để viết báo cáo thực tập.
- Giảng viên hướng dẫn thông qua đề cương báo cáo thực tập, trên thực tế kèm theo kế hoạch, tiến độ sưu tầm tư liệu, viết báo cáo thực tập ở cơ sở được chọn.
- Dựa trên kế hoạch đó, giảng viên hướng dẫn gặp gỡ, kiểm tra, gợi ý cho sinh viên.
- Chấm báo cáo khi đợt thực tập kết thúc, chuyển qua quá trình viết luận văn tốt nghiệp.


Từ khóa đầu đến nay trường chủ trương 100% sinh viên đạt yêu cầu về các môn học qua thi kết thúc học phần đều phải viết luận văn tốt nghiệp dựa trên cơ sở báo cáo thực tập đã thực hiện. Điều này không giống với các trường đại học khác, khi chỉ cho phép sinh viên khá giỏi viết luận văn, số sinh viên còn lại thì thi (tự luận) một số môn học chủ chốt của ngành đào tạo.


Việc tập dượt viết báo cáo và luận văn có kết quả tích cực đối với việc rèn luyện kỹ năng thực hành, ứng dụng cho sinh viên. Nói chung, trường không chủ trương viết luận văn theo các chủ đề thuần túy lý thuyết. Điều này tạo điều kiện cho sinh viên nâng cao khả năng vận dụng kiến thức đã học tập xử lý một vấn đề thực tế phát sinh ở doanh nghiệp.


Khi nói đến chất lượng đào tạo tòan diện, thì ngòai những giải pháp bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn nghề nghiệp, trường có hệ thống Giáo viên chủ nhiệm chuyên trách chăm lo công tác giáo dục đạo đức, tư cách, hướng dẫn và đánh giá kết quả rèn luyện của từng sinh viên. Giáo viên chủ nhiệm cũng là cầu nối giữa trường và gia đình sinh viên.


Vài năm vừa qua thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục đào tạo, trường đã tổ chức tự kiểm định, đánh giá chất lượng, trong đó chủ yếu lá chất lượng đào tạo về chuyên môn, nghề nghiệp. Các thành viên Ban giám hiệu chủ trì các chuyên đề tự đánh giá chất lượng của trường. Thông qua hội thảo ở các Bộ môn, Khoa, Phòng, Ban, tập thể nhà trường nhất trí cao với kết quả tự đánh giá chất lượng thuộc tốp cao trong các trường đại học do Ban giám hiệu đưa ra. Đồng thời các hội thảo cũng tán đồng trong giai đoạn sau 15 năm xây dựng và trưởng thành, trường cần củng cố về quy mô đào tạo, tập trung mọi nguồn lực chuyển hẳn qua trọng tâm nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo. Đó là con đường tiến lên của Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn sau năm 2011./.
Comments