Liên Thông ngành Công Nghệ Thông Tin

Ngành Công nghệ thông tin – học không bao giờ lỗi thời

đăng 03:19, 12 thg 7, 2014 bởi Son Le   [ đã cập nhật 01:07, 16 thg 7, 2014 ]

Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Nó chính là nhân tố giúp kết nối và trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu. Trong hệ thống ngàneh nghề được đào tạo ở các bậc Đại học, Cao đẳng, ngành Công nghệ thông tin luôn được xem là sự lựa chọn thông minh của học sinh phổ thông và các bậc phụ huynh trong việc hướng nghiệp cho con em mình.

 

Công nghệ thông tin là gì?

Công nghệ thông tin (CNTT) hiểu theo nghĩa rộng và tổng quát nhất là việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, lưu trữ, truyền dẫn thông tin, xử lý, khai thác thông tin. Hiện tại ngành CNTT phân thành 5 chuyên ngành chính: Khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, hệ thống thông tin, mạng máy tính truyền thông, kỹ thuật phần mềm. Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất. Người làm trong ngành này đòi hỏi tư duy nhạy bén, tư duy logic, độc lập sáng tạo, say mê công việc thiết kế, có khả năng tiếp cận công nghệ mới.

 Công nghệ thông tin học gì?

Ngành Công nghệ thông tin là một ngành chung, sinh viên được trang bị các kiến thức về khoa học tự nhiên, các kiến thức cơ bản như mạng máy tính, an toàn và bảo mật hệ thống thông tin, phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, lập trình, phần mềm… đồng thời người học sẽ được lựa chọn các kiến thức các chuyên ngành chuyên sâu như: Hệ thống thông tin; công nghệ phần mềm; mạng và truyền thông máy tính; khoa học máy tính. Tùy theo từng chuyên ngành mà sẽ có hướng chuyên sâu và khả năng công tác khác nhau.


Cơ hội việc làm cao

CNTT luôn phát triển từng ngày, từng giờ với tốc độ chóng mặt nên nhu cầu nhân lực ngành này là rất lớn. Hầu hết các tổ chức, các công ty, các doanh nghiệp đều cần đến người làm trong lĩnh vực Công nghệ thông tin. Hơn nữa, phạm vi của ngành CNTT rất rộng nên sinh viên hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một hướng đi phù hợp với khả năng.

Học Đại học Công nghệ thông tin đòi hỏi sinh viên phải tập trung cao độ

Khi tốt nghiệp ngành này, sinh viên có khả năng tham mưu tư vấn, thực hiện các công việc trong lĩnh vực chuyên ngành như lập trình, phân tích thiết kế hệ thống, lập trình hệ thống thông tin, lập dự án xây dựng các phần mềm ứng dụng, quản lý dữ liệu, mạng, kỹ thuật phần cứng máy tính, thiết kế phần mềm và thiết kế cơ sở dữ liệu… Tham gia công tác tại các cơ quan trong và ngoài nước có liên quan đến lĩnh vực CNTT, các phòng chức năng trong các cơ quan, công ty, trung tâm phụ trách CNTT; tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại các trường ĐH, CĐ, TCCN có đào tạo ngành hoặc chuyên ngành về CNTT.

 

Học Công nghệ thông tin ở đâu?

Hiện nay, nước ta có khoảng 450 trường ĐH - CĐ đào tạo về CNTT. Điển hình như ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Công nghệ Thông tin, ĐH Công nghệ TPHCM . Tương ứng với đó là một số lượng lớn cử nhân, kĩ sư ngành CNTT ra trường mỗi năm, nhưng trong số những người đã tốt nghiệp thì có tới “72% không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kĩ năng làm việc nhóm và đến 77,2% doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân viên mới”. Vì vậy, lựa chọn trường học là hết sức quan trọng.

Hệ thống phòng thực hành mở luôn đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của sinh viên

Ngành: Công nghệ thông tin

Mã ngành: D480201 (ĐH) và C480201 (CĐ)

Khối thi: A, A1, D1

Thời gian đào tạo: 4 năm (ĐH), 3 năm (CĐ)

Văn bằng: Kỹ sư

Những trường ĐH hàng đầu chú trọng đào tạo thiên về kỹ năng thực hành cho sinh viên của tất cả các ngành. Bên cạnh những kiến thức chuyên môn, sinh viên còn được thực hành tại hệ thống phòng Lab, trung tâm máy tính hiện đại và đa tiện ích; thao tác trên các phần mềm mới nhất của Microsoft, Oracle…; tham gia các lớp kỹ năng mềm; phát triển toàn diện kỹ năng chuyên môn thông qua việc tham gia CLB Lập trình tài năng, CLB Bạn trẻ yêu công nghệ… 

THÔNG TIN TUYỂN SINH KHÁC: LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Lương ngành Công Nghệ Thông Tin cao - Tiêu phải tích kiệm

đăng 03:06, 12 thg 7, 2014 bởi Son Le   [ đã cập nhật 00:59, 16 thg 7, 2014 ]

Trong suốt một thập niên qua, mức lương Đại học công nghệ thông tin (CNTT) liên tục gia tăng. Số liệu điều tra trong năm nay lại cho thấy mức lương đang bắt đầu một chu kỳ tăng mới, và điều đó cho phép chúng ta nhìn lại để tìm hiểu xem chúng ta đánh giá như thế nào về chuyện tiền bạc...

"Dường như mối nhân duyên của chúng ta - những người trong ngành CNTT - với lương bổng đã phát triển thành một mối quan hệ ít nhiều bất ổn. E rằng chúng ra đã tạo ra một số khái niệm sai lầm về ý nghĩa của tiền bạc", đó là quan điểm của Paul Glen - nhà tư vấn về quản trị CNTT ở Los Angeles, có hơn 12 năm kinh nghiệm trong việc phân phối và quản lý những sản phẩm và dịch vụ liên quan đến CNTT.

Ý nghĩa của tiền bạc

Có rất ít những vấn đề tạo ra nhiều cảm xúc nơi những người làm Công nghệ thông tin như chuyện lương bổng, kể cả những vấn đề về quản lý. Không phải là vì người ta đói ăn. Hầu như không có ai làm việc toàn thời gian trong ngành CNTT lại phải đi xin tem phiếu thực phẩm, và cũng chẳng có ai đủ tiêu chuẩn để bị xem là nghèo. Năm nay, mức tăng lương bình quân 3% trong ngành không phải là chuyện quá tệ. Vậy thì vấn đề nằm ở chỗ nào?

Vấn đề chính là chúng ta cho phép tiền bạc trở nên gắn kết với một số vấn đề khác. Chúng ta xem nó như một biểu trưng vật thể cho những giá trị phi vật thể.

Địa vị. Chúng ra xem tiền bạc như một minh chứng cho địa vị xã hội. Giống như trong bầy đàn, chúng ta thật sự muốn biết vị trí của mình trong mối tương quan với những người khác, và tiền bạc là một tiêu chí để xem xét.

Giá trị cá nhân. Chúng ta sử dụng tiền bạc như một biểu tượng để xem công ty đánh giá giá trị chúng ta như thế nào. Công ty trả càng nhiều tiền thì hàm nghĩa là họ đánh giá chúng ta càng cao.

Tiến triển. Chúng ta kỳ vọng thu nhập sẽ tăng trường liên tục theo thời gian trong nghề. Chúng ta càng tiến triển thì giá trị chúng ta càng cao và lương bổng cũng sẽ tăng cao tương ứng.

Sự công bằng. Điều quan trọng nhất là chúng ta sử dụng tiền bạc như một thước đo để xem xét sự công bằng của công ty. Chúng ta so sánh giá trị mà chúng ta đóng góp và kỳ vọng sẽ được bù đắp tương xứng. Chúng ta phỏng đoán giá trị mà chúng ta tạo ra trong tương quan với các đồng nghiệp và hy vọng rằng mỗi người sẽ được hưởng thành quả tuỳ theo sự đóng góp của mình.

Do vậy, rất thường xuyên là mỗi khi cảm thấy không thoải mái với những cảm xúc của mình, cảm thấy bị đánh giá thấp, không được quý mến hay bị đối xử không công bằng, những người làm CNTT luôn than phiền về chuyện tiền bạc. Đó là cách thức an toàn và cụ thể để họ bày tỏ những gì họ không muốn. Cách nói dễ dàng là: "Anh ta làm việc không tốt bằng tôi nhưng lại được trả lương cao hơn. Điều đó không công bằng", thay vì nói: "Tại sao ông không đánh giá tôi và sự đóng góp của tôi như cách ông đánh giá anh ta?". Thực ra hai cách nói chỉ xoay quanh một vấn đề.

Và vấn đề xuất phát từ đó.

Xét một cách tổng quan, chúng ta được trả tiền nhiều hay ít không phải là vấn đề giá trị, mà là vấn đề cung - cầu. Chuyện tăng hay giảm các mức lương ít dựa vào giá trị mà chúng ta đóng góp cho công ty, mà căn cứ nhiều hơn vào mức tăng giảm nguồn nhân lực có cùng những kỹ năng như chúng ta trên thị trường.

"Lương cao? - Bạn hãy tiết kiệm!"

Trong những năm bùng nổ của ngành Công nghệ thông tin ở thập niên 1990, tôi phải tuyển dụng những sinh viên mới ra trường với mức lương quá gấp hai lần mức thu nhập của một gia đình bốn người tại Mỹ. Mỗi khi họ hỏi xin tôi một lời khuyên trong nghề, tôi chỉ luôn nói với họ một câu: "Bạn hãy tiết kiệm tiền". Và họ thường nhìn tôi như thể tôi đang nói một ngôn ngữ khác.

"Bạn nhận được mức lương cao như thế này không phải vì bạn giỏi hơn người quản lý. Đây chỉ là vấn đề cung - cầu, và ở một thời điểm nào đó, mọi chuyện sẽ thay đổi. Đừng xây dựng cuộc sống trên cơ sở giả thiết rằng thu nhập của bạn ngày càng tăng. Thực ra, nếu bạn suy nghĩ về điều đó, thì thử hỏi: Nếu công ty cần phải sa thải một nguời, giữa bạn và người quản lý, bạn nghĩ chúng tôi sẽ chọn ai?".

Khi mà thị trường kỹ năng CNTT ngày càng toàn cầu hóa, chúng ta cần phải hiểu đúng ý nghĩa của tiền bạc. Và có lẽ điều quan trọng hơn là chúng ta cần phải tìm cách tốt hơn để thể hiện những suy nghĩ của mình về những chuyện như giá trị, sự đóng góp hay sự công bằng thay vì bám vào một biểu tượng đã trở nên quen thuộc với chúng ta.

BÀI VIẾT ĐÁNG CHÚ Ý: LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Ngành Công Nghệ Thông Tin dễ xin việc trong tương lai

đăng 02:57, 12 thg 7, 2014 bởi Son Le   [ đã cập nhật 01:04, 16 thg 7, 2014 ]

Sau khi ra trường có thể dễ dàng tìm được một công việc phù hợp, cơ hội thăng tiến cao là mơ ước của rất nhiều người. Do đó việc tìm hiểu nhu cầu của xã hội trước khi bắt tay vào học một ngành nào đó là việc cực kỳ quan trọng, điều đó quyết định tương lai của bạn về sau. Một công việc được cho là dễ xin chỉ khi xã hội đang cần, nhu cầu tuyển dụng cao hơn nguồn lao động hiện có trên thị trường. Tuy nhiên điều đó cũng sẽ sớm bảo hòa sau một thời gian không xa, vì có cầu ắt có cung, vì vậy một ngành được cho là “hot” hiện nay cũng không có gì đảm bảo là sẽ ổn định lâu dài. Như vậy ngành nào đang là sự lựa chọn của nhiều bạn bạn trẻ hiện nay?

Công nghệ thông tin, kinh tế lên ngôi

Theo tỉ lệ tuyển sinh đầu vào của các trường Đại học Cao đẳng trong những năm gần đây thì các ngành như Công nghệ thông tin, kinh tế… hiện đang thu hút rất nhiều thí sinh. Điều đó cũng không có gì là khó hiểu trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang từng ngày phát triển từng ngày thay da đổi thịt như hiện nay. Ngược lại các ngành xã hội lại đang khát thí sinh, vì đa phần cho rằng ngành này khó xin việc, ra trường ít có cơ hội thăng tiến.

 

Mặc dù có xuất phát điểm chậm nhưng ngành Công nghệ thông tin của Việt Nam lại đang tiến nhanh, vượt xa nhiều nước trong khu vực. Hiện nay không có cơ quan, doanh nghiệp, hay tổ chức nào cũng cần đến Đại học Công nghệ thông tin từ việc đơn giản như soạn thảo văn bản, lưu trữ dữ liệu, đến các công việc phúc tạp đòi hỏi phải có độ chính xác và kỹ thuật cao như lập trình, đồ họa… Nắm bắt được xu thế đó nên rất nhiều bạn trẻ đã đi theo con đường này, và thật tế họ đã tìm được công việc như mình mong muốn. Họ thành công là vì biết đón đầu xu thế, biết trước những gì xã hội sẽ cần. Chính họ đã trở thành tấm gương để các bạn trẻ noi theo và rất nhiều người đã đô xô vào học ngành này, với mong muốn tìm được cho mình một việc làm tốt trong tương lai.

 

Nhưng thực tế hiện nay cho thấy nguồn lao động ở các ngành này cũng đang dần trở nên quá tải, khi mà nguồn cung ngày càng trở nên dư thừa trong khi với tình hình kinh tế khó khăn, doanh nghiệp giải thể hàng loạt như hiện nay thì nhu cầu tuyển dụng cũng không còn rầm rộ như trước, song nhiều người vẫn chưa nhận ra được thực tế đó. Họ sẵn sàng từ bỏ ngành mà mình mơ ước để lao vào các ngành “thời thượng” này, chính tâm lý số đông đó đã góp phần làm cho ngành này trở nên khó xin việc trong tương lai do cung vượt quá cầu.

 

Các ngành xã hội “thê thảm” đầu vào nhưng sáng lạng đầu ra

Hiện nay các ngành xã hội đơn cử là khối C đang ngày càng trở nên khan hiếm thí sinh dự tuyển, vào thời buổi kinh tế thị trường, cuộc sống trở nên gấp gáp thì việc chọn học một ngành thơ văn dường như quá xa xời so với thực tế. Mặc dù đó có thể là ước mơ là sở thích nhưng có nhiều người sẵn sàng từ bỏ để chạy theo các ngành học mang tính “thời thượng”, nhưng chưa chắc đầu ra đã đảm bảo vì số lượng quá nhiều. Chính điều đó đang dần tạo nên sự khan hiếm nguồn nhân lực cho các ngành thuộc khối xã hội, và chắc chắn sẽ còn khan hiếm hơn khi đầu vào ngày càng ít như hiện nay. Đây là thời cơ tuyệt vời để những ai yêu thích và dấn thân vào các ngành này, sẽ không còn nhiều tình trạng khó xin việc, vì lúc này việc cần người hơn là người cần việc. Hơn nữa các nghề quan trọng không thể thiếu trong xã hội như sư phạm, luật, báo chí…cũng từ khối C mà ra chứ không phải học văn chương chỉ là hoa lá cành như nhiều người quan niệm. Từ thực tế đó cho thấy tuy đầu vào không rầm rộ như các ngành khác, nhưng đây sẽ là lợi thế hứa hẹn một việc làm tốt trong tương lai không xa.

 

Đón đầu cơ hội

Việc này không khó tuy nhiên đây là yếu tố quyết định thành công mà mọi người thường bỏ qua, ta hãy lấy ví dụ như trường hợp vài người nông dân mạnh dạn nuôi nhím, lúc đầu không ai làm theo nhưng đến khi thấy lợi nhuận khủng mà nó mang lại thì họ sẵn sàng từ bỏ tất cả để lao vào nuôi nó, có thời điểm tạo nên một cơn sốt trong người nông dân, một cặp giống có thể lên đến vài chục triều đồng, nhưng việc gì đến cũng phải đến khi nhà nhà nuôi nhím thì con vật mà trước kia được cho là khan hiếm bây giờ trở nên bình thường và ế ẩm. Lúc này đa số đều đã thất bại ngoại trừ những người đi tiên phong, và những người đi sau cùng kiên trì giữ lại đến một thời gian trên thị trường không còn thì nó lại trở nên khan hiếm. Đây là vòng lẩn quẩn mà từ người nông dân trồng trọt chăn nuôi cho đến doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vẫn chưa tìm ra lối thoát, hễ thấy ngành nào nghề mang lại lợi nhuận cao thì lập tức cùng nhau ùa vào và nó lại bảo hòa, không phải họ không biết nhưng lạ một điều là họ vẫn làm theo.

 

Qua đó ta thấy được một điều, nếu muốn thành công thì một bạn phải là người tiên phong, hai bạn phải là người kiên trì đến sau cùng, không nên chạy theo đám đông. Thật vậy thị trường việc làm hiện nay cũng không khác gì dẫn chứng trên là mấy, hễ thấy một ngành nào đang “hot” là số đông lại ùa vào và thế là cung lại vượt cầu. Vì vậy một lời khuyên chân thành dành cho các bạn yêu thích khối xã hội hay bất cứ ngành nào mà mọi người đang quay lưng thì hãy mạnh dạn đi theo con đường mà mình đã chọn, đầu vào không ồ ạt đừng vội nản chí, tại sao bạn không nghĩ đó là một cơ hội tuyệt vời giành cho bạn sau khi ra trường. Mỗi người một ngành nghề một công việc, chính điều đó tạo nên cuộc sống, vì vậy hãy theo đuổi những gì mình đã lựa chọn đừng chạy theo số đông, đừng lao theo những ngành được cho là “hot” mà hãy học những gì mình yêu thích, không một công việc nào là không có ích cho cuộc sống này, và hãy luôn nhớ rằng hãy học những gì mà xã hội sẽ cần hơn nhưng gì xã hội đang cần, bởi vì việc học không chỉ một ngày một bữa, những gì xã hội đang cần nhưng đến khi bạn ra trường thì điều ấy chưa chắc còn đúng, nhưng ngược lại những gì mọi người đang quay lưng thì trong tương lai sẽ ắt hẳn sẽ trở nên cần thiết. Một nguyên tắc đơn giản nhưng sẽ rất hiệu quả nếu bạn biết áp dụng, biết nhìn vào thật tế cuộc sống.

NHỮNG THÔNG TIN BÊN LỀ: LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Ngành công nghệ thông tin: khát nhân lực cao

đăng 02:54, 12 thg 7, 2014 bởi Son Le   [ đã cập nhật 01:08, 25 thg 3, 2016 ]

Công nghệ thông tin đi vào đời sống

      Ngày nay, hầu như ngành nghề, lĩnh vực hay hoạt động nào trong xã hội hiện đại cũng cần tới sự góp mặt của Công nghệ thông tin (CNTT). Điều gì khiến CNTT trở nên quan trọng? nhu-cau-tuyen-dung-cntt-caoĐó chính là nhu cầu đối với sản phẩm của ngành này vô cùng lớn và ngày càng tăng. Bất cứ đâu cũng có thể thấy sự hiện diện của CNTT, có thể là chiếc điện thoại đang dùng với rất nhiều phần mềm được cài sẵn bên trong, hoặc mỗi khi đi rút tiền ở ATM, chắc không thể hình dung được rằng toàn bộ hệ thống ngân hàng sẽ ngừng hoạt động và vô cùng hỗn loạn nếu hệ thống phần mềm gặp sự cố v..v. Cứ như vậy, từ ngân hàng, tới hàng không, từ viễn thông tới cả những lĩnh vực như an ninh quốc phòng, ở đâu ứng dụng của CNTT cũng vô cùng quan trọng. Vì vậy, để vận hành, phát triển các hệ thống và các ứng dụng công nghệ thông tin, đòi hỏi một nguồn nhân lực rất lớn và vẫn còn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo.

      “Khát” nhân lực

      Theo thống kê của Bộ Thông tin và &Truyền thông, hiện nay nguồn nhân lực CNTT tại các doanh nghiệp đang thiếu trầm trọng, nhu cầu tuyển dụng trong lĩnh vựcCNTTlà khoảng 250.000 lao động. Theo hướng quy hoạch nhân lực quốc gia đến năm 2020, Việt Nam cần 1 triệu lao động trong lĩnh vực CNTT. Những con số trên cho thấy nhu cầu, cơn khát nhân lực trong ngànhCNTT dường như vẫn chưa hề giảm sút. Còn theo Bộ Thông tin và Truyền thông, nhu cầu nhân lực CNTT mỗi năm tăng 13%. Bên cạnh công nghệ phần cứng, phần mềm hay mạng máy tính quen thuộc lâu nay, thị trường ngành này thay đổi hằng năm với sự góp mặt và phát triển nhanh ở các lĩnh vực như: tích hợp hệ thống, công nghệ di động, thương mại điện tử, game... Hiện nhu cầu tuyển dụng nhân lực trong ngành rất rộng mở, trong đó có nhiều vị trí “khát” trầm trọng như: lập trình di động, điện toán đám mây, quản trị mạng, chuyên gia bảo mật và an ninh mạng...

      Học ngành Công nghệ thông tin không lo thất nghiệp

      Khủng hoảng kinh tế trong những năm vừa qua đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam trải qua những khó khăn chưa từng có kể từ đất nước bước vào thời kỳ đổi mới.

      Năm 2012 đã có khoảng 54.000 doanh nghiệp giải thể cao nhất từ trước tới nay. Xu hướng này vẫn còn tiếp tục, 6 tháng đầu năm 2013 số doanh nghiệp giải thể tiếp tục tăng 12,3%. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới thị trường việc làm, nhiều người phải đối mặt với áp lực mất việc làm. Sinh viên mới ra trường vì thế khó tìm việc làm hơn rất nhiều. Trong bối cảnh đó, đối với những học sinh vừa tốt nghiệp PTTH, việc lựa chọn một ngành học  để đảm bảo cho tương lai sau này trở nên khó khăn hơn.

      Nếu bạn đang bối rối về việc chọn lựa, ngành CNTT sẽ là một trong những câu trả lời tốt cho bạn. CNTT giúp bạn vượt qua khủng hoảng. Thực tế các cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đã chứng minh,  nhân lực ngành CNTT là một trong những ngành ít chịu ảnh hưởng nhất. Trong khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, trong khi các ngành  Tài chính, Bất động sản, Xây dựng ... rất nhiều người mất  việc làm, thì nhu cầu nhân lực ngành CNTT vẫn không giảm mà có xu hướng tăng. Ở thị trường lao động Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

      CNTT vô cùng thú vị

      học Đại học Công nghệ thông tin không chỉ đem đến cho bạn một tương lai vững chắc, nó còn là một công việc thú vị - luôn giúp bạn cập nhật những điều mới mẻ nhất, luôn giúp bạn vươn lên. Đúng là ngành CNTT không còn là một ngành mới mẻ,  nhưng những sản phẩm CNTT luôn luôn mới và làm thay đổi cuộc sống của chúng ta vô cùng nhanh.

      Ngành CNTT thực sự là một sự lựa chọn ngành nghề rất tốt cho con đường tương lai của các bạn trẻ. Dù trong giai đoạn kinh tế khủng hoảng, rơi vào khó khăn, các ngành nghề khác đang đi xuống nhưng ngành CNTT vẫn có những tăng trưởng đáng kể. Điều đó càng khẳng định, nếu các bạn trẻ có định hướng và đam mê theo đuổi ngành CNTT thì các bạn hãy tự tin rằng mình có đủ sáng tạo , kiên trì và nghị lực để bước vào thế giới CNTT và vững bước trên con đường mình đã chọn. Ngành CNTT sẽ còn có nhiều cơ hội phát triển vượt bậc hơn trong những năm sắp tới. Chỉ là các bạn đã dám bước qua chính mình để tự khẳng định và tự mở ra tương lai cho chính mình hay chưa?

THÍ SINH THAM KHẢO THÊM THÔNG TIN TUYỂN SINH SAU: LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Học ngành Công nghệ thông tin ra trường làm gì?

đăng 02:50, 12 thg 7, 2014 bởi Son Le   [ đã cập nhật 00:42, 16 thg 7, 2014 ]

Khối ngành Công nghệ thông tin (CNTT) luôn thu hút sự quan tâm của nhiều thí sinh, đặc biệt là các bạn có niềm đam mê về tin học, mạng máy tính... Sau khi tốt nghiệp khối ngành này, sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức gì, làm những công việc gì, bài viết dưới đây sẽ trả lời câu hỏi đó.

Khối ngành CNTT không chiếm tỉ lệ lớn về lượng hồ sơ đăng ký dự thi hàng năm nhưng lại luôn được nhắc đến nhiều bởi sự bùng nổ của ngành CNTT. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, lượng thí sinh thi vào khối ngành này đang có xu hướng giảm, tỉ lệ chọi xuống thấp kéo theo đó là mức điểm chuẩn cũng giảm dần. Mức điểm chuẩn của các chuyên ngành trong khối ngành này năm 2011 chủ yếu là dưới 20.

1. Công nghệ thông tin
 
Ngành Công nghệ thông tin là một ngành chung, sinh viên được trang bị các kiến thức về khoa học tự nhiên, các kiến thức cơ bản như mạng máy tính, an toàn và bảo mật hệ thống thông tin, phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, lập trình, phần mềm… đồng thời người học sẽ được lựa chọn các kiến thức các chuyên ngành chuyên sâu như Hệ thống thông tin; công nghệ phần mềm; mạng và truyền thông máy tính; khoa học máy tính. Tùy theo từng chuyên ngành mà sẽ có hướng chuyên sâu và khả năng công tác khác nhau. Khi ra trường, sinh viên được cấp bằng kỹ sư CNTT hoặc cử nhân CNTT tùy theo thời gian đào tạo. Sinh viên sau khi tốt nghiệp có khả năng tham mưu tư vấn, thực hiện các công việc trong lĩnh vực chuyên ngành như lập trình, phân tích thiết kế hệ thống, lập trình hệ thống thống tin, lập dự án xây dựng các phần mềm ứng dụng,… Tham gia công tác tại các cơ quan trong và ngoài nước có liên quan đến lĩnh vực CNTT, các công ty phần mềm, mạng.. các phòng chức năng trong các cơ quan, công ty, trong tâm phụ trách CNTT, hệ thống quản trị; tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại các trường ĐH,CĐ,TCCN có đào tạo ngành hoặc chuyên ngành về Đại học Công nghệ thông tin

2. Khoa học máy tính
 
Đây là ngành nghiên cứu các cơ sở lý thuyết về thông tin và tính toán cùng sự thực hiện và ứng dụng của chúng trong các hệ thống máy tính. Khoa học máy tính có học phần/chuyên ngành chuyên sâu, một số chuyên ngành nhấn mạnh vào việc tính toán các kết quả cụ thể (chẳng hạn đồ họa máy tính), trong khi các chuyên ngành khác lại liên hệ đến tính chất của những vấn đề có thể giải quyết được dùng phương pháp máy tính, (ví dụ như Lý thuyết độ phức tạp tính toán). Còn lại những chuyên ngành khác thì tập trung vào những khó khăn trong việc thực thi những phương pháp dùng để tính toán, lấy ví dụ, ngành Lý thuyết ngôn ngữ lập trình chẳng hạn. Đây là chuyên ngành nghiên cứu những phương thức khác nhau tiếp cận việc mô tả cách tính toán, trong khi ngành Lập trình ứng dụng những Ngôn ngữ lập trình cụ thể để giải các bài toán.

Một số trường đào tạo ngành Khoa học máy tính: Đại học Công Nghệ - ĐHQGHN, ĐH Bách Khoa HN, ĐH Công Nghiệp Hà Nội, ĐH Hà Nội, ĐH Kinh Tế Quốc Dân, ĐH Quốc tế Sài Gòn,…

Sau khi tốt nghiệp sinh viên ngành Khoa học máy tính có thể đảm nhận các vị trí xây dựng, vận hành và bảo trì hệ thống máy tính trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, các doanh nghiệp;Các công ty phần mềm, xây dựng website, gia công phần mềm, các công ty tư vấn về lĩnh vực CNTT, các công ty tư vấn và bản trì về mạng và các thiết bị máy tính…, làm việc tại các trung tâm nghiên cứu, viện khoa học công nghệ, tham gia giảng dạy tại các trường ĐH,CĐ có đào tạo chuyên ngành.

3. Hệ thống thông tin
 
Đây là một chuyên ngành tương đối mới, nhiều sinh viên học năm 1, năm 2 của ngành vẫn chưa hiểu sau này ra làm gì? Công tác ở đâu?

Trước hết, các bạn cần hiểu, hệ thống thông tin là sự kết hợp của phần cứng, phần mềm và mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, và phân phối các dữ liệu, thông tin và tri thức hữu ích một cách đặc trưng trong bối cảnh của tổ chức. Các tổ chức sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau: đạt được lợi thế cạnh tranh, nắm bắt được nhiều khác hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ.

Sinh viên tốt nghiệp ngành Hệ thống thông tin có thể làm việc ở nhiều vị trí khác nhau: Phân tích viên hệ thống (systems analyst), tích hợp hệ thống (system integrator), quản trị cơ sở dữ liệu, phân tích hệ thống thông tin; Quản trị hệ thống thông tin trong cơ quan, xínghiệp; Lập trình quản lý cơ sở dữ liệu; Quản lý cơ sở dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định cho lãnh đạo; Đào tạo và hướng dẫn các nhân viên ở các bộ phận khác sử dụng thông tin và hệ thống một cách có hiệu quả; Đảm nhận vai trò của một CIO (giám đốc thông tin); Cán bộ quản lý dự án trong các hướng ngành đang có nhu cầu rất lớn của xã hội: giáo dục điện tử (elearning), thương mại điện tử (e-commerce), chính phủ điện tử (e-government), các hệ thống thông tin địa lý (GIS)... Nghiên cứu viên, giảng viên.

4. Mạng máy tính và truyền thông
 
Người học được trang bị kiến thức về kỹ thuật truyền tin mạng diện rộng, mạng cục bộ, hệ cơ sở dữ liệu phân tán, kỹ năng thiết kế, cài đặt, phát triển ứng dụng các mạng tin học viễn thông.

Ngành mạng máy tính và truyền thông đào tạo kỹ sư nắm vững kiến thức cơ bản và chuyên sâu về ngành nghề, đáp ứng yêu cầu về nghiên cứu, ứng dụng, có khả năng thiết kế chế tạo, bảo trì, sản xuất, thử nghiệm, quản lý các hệ thống mạng máy tính và truyền thông.

Sinh viên tốt nghiệp có khả năng đảm nhận các chức năng tham mưu, tư vấn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ với tư cách là một chuyên viên trong lĩnh vực CNTT.

5. Ngành kỹ thuật máy tính

Ngành này đào tạo kỹ sư ngành kỹ thuật máy tính nắm vững các nguyên lý cơ bản và thực tiễn trong lĩnh vực kỹ thuật máy tính, đặc biệt là lĩnh vực thiết kế vi mạch.
Sau khi hoàn thành chương trình, kỹ sư ngành kĩ thuật máy tính có khả năng nghiên cứu và thiết kế các bộ phận chức năng của máy tính, tham gia làm việc trong các dự án sản xuất các thiết bị máy tính cho các tập đoàn lớn trên thế giới đã đầu tư vào Việt Nam như: Intel, IBM, Samsung, Nidec…

6. Ngành kĩ  thuật phần mềm

Ngành kĩ thuật phần mềm trang bị cho sinh viên kiến thức tổng quát về qui trình xây dựng, quản lý và bảo trì hệ thống phần mềm; có khả năng phân tích, thiết kế và quản lý các dự án phần mềm; cung cấp phương pháp luận và công nghệ mới để sinh viên có thể nắm bắt và làm chủ các tiến bộ khoa học.

Sinh viên được cung cấp kiến thức cơ bản về tổ chức và quản lý công nghệ phần mềm để có khả năng xây dựng mô hình và áp dụng các nguyên tắc của công nghệ phần mềm vào thực tế.

THÔNG TIN KHÁC VỀ NGÀNH TIN HỌC: LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Giới thiệu về ngành Công Nghệ Thông Tin

đăng 02:45, 12 thg 7, 2014 bởi Son Le   [ đã cập nhật 00:39, 16 thg 7, 2014 ]

Công nghệ thông tin (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin thông qua công cụ chủ yếu là máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin. người làm việc trong ngành này thường được gọi là dân công nghệ thông tin (IT specialist). Một cách định nghĩa khác: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội. Trong hệ thống giáo dục Tây phương, công nghệ thông tin đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông. Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về công nghệ thông tin đã có ích cho tất cả các môn học khác. Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về công nghệ thông tin trong các môn học đã trở thành hiện thực.

Ngành công nghệ thông tin có nhiều chuyên ngành như: khoa học máy tính, mạng máy tính và truyền thông, kỹ thuật máy tính, kỹ thuật phần mềm, hệ thống thông tin… ngành công nghệ thông tin có hai phần cốt lõi là phần cứng và phần mềm, trong đó phần mềm mới thật sự là bản chất của công nghệ thông tin. Tùy thuộc từng chuyên ngành cụ thể, bạn sẽ được trang bị những kiến thức, kỹ năng phù hợp với chuyên ngành mình theo học. Ngoài ra, để thành công trong lĩnh vực công nghệ thông tin, bạn phải hoàn thiện và nâng cao các kỹ năng căn bản của môn toán học cũng như tiếng Anh, có khả năng làm việc theo nhóm và sức khỏe thật tốt.

Phẩm chất, kỹ năng yêu cầu:

- Thông minh và có khả năng sáng tạo.
- Có năng khiếu về toán đại.
- Khả năng làm việc dưới áp lực lớn.
- Ham học hỏi và chính xác trong công việc.
- Khả năng làm việc theo nhóm.
- Đam mê công nghệ thông tin.

Các ngành nghề đào tạo trong lĩnh vực Công nghệ thông tin:

Công nghệ Thông tin
Công nghệ kỹ thuật phần mềm
Công nghệ Kĩ thuật máy tính
Mạng và truyền thông máy tính
Hệ thống thông tin
Tin học ứng dụng
Các ngành nghề liên quan

Diễn tả chi tiết các ngành nghề:

Đại học Công nghệ Thông tin (Bao gồm những ngành sau: Công nghệ Thông tin, Công nghệ Tin học.)

Chuyên ngành công nghệ thông tin trang bị cho học viên kiến thức đại cương thuộc khối Khoa học Tự nhiên: Toán tin học - xác suất thống kê - vật lý hiện đại…, kiến thức cơ bản về ngành: lý thuyết thông tin - ngôn ngữ lập trình - kỹ thuật điện tử - hệ điều hành - vi xử lý.. Bên cạnh việc cung cấp khối kiến thức chuyên sâu của chuyên ngành như : Nhận dạng và xử lý ảnh - đồ hoạ máy tính - chương trình dịch - công nghệ phần mềm… sinh viên còn được học một số môn học theo tín chỉ nhằm bổ trợ kiến cho ngành : Thiết kế cơ sở dữ liệu và phân bố - lập trình mạng… đồng thời được rèn luyện kỹ năng thực hành theo 5 hướng chuyên môn tuỳ chọn : kỹ thuật máy tính, hệ thống thông tin quản lý, phần mềm ứng dụng, công nghệ phần mềm và lập trình mạng… để sau khi ra trường sinh viên có khả năng thiết kế và phát triển các hệ thống máy tính cả về phần cứng lẫn phần mềm, chế tạo các sản phẩm phần mềm, hệ thống thông tin quản lý, hệ thống truyền htông, hệ thống điều khiển…

Công nghệ kỹ thuật phần mềm:

(Bao gồm những ngành sau: Công nghệ kỹ thuật phần mềm, Lập trình máy tính, Lập trình game.)

Chuyên ngành kỹ thuật phần mềm trang bị cho sinh viên những kiến thứ chung dành cho khối khoa học tự nhiên và các kiến thức cơ bản về ngành, đồng thời sinh viên còn được trang bị các kiến thức chuyên sâu của chuyên ngành như: lý thuyết thông tin - ngôn ngữ lập trình - kỹ thuật điện tử - hệ điều hành - vi xử lý.. Bên cạnh việc cung cấp khối kiến thức chuyên sâu của chuyên ngành như : Nhận dạng và xử lý ảnh - đồ hoạ máy tính - chương trình dịch - công nghệ phần mềm… và các kiến thức bổ trợ khác để sau khi ra trường cử nhân ngành kỹ thuật phần mềm có khả năng phân tích, thiết kếm và quản lý các dự án phần mềm, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quyền hạn của một chuyên viên trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm, đồng thì có khả năng xây dựng mô hình và áp dụng các nguyên tắc của công nghệ phần mềm vào thực tế …

Công nghệ Kĩ thuật máy tính:

(Bao gồm những ngành sau: Công nghệ Kĩ thuật máy tính, Khoa học Công nghệ Máy tính, Kỹ thuật Máy tính.)

Sinh viên học chuyên ngành kỹ thuật máy tính được cung cấp kiến thức chung về khối Khoa học Tự nhiên như: Giải tích - Đại số - Toán học rời rạc - Xác suất thống kê - Vật lý hiện đại… cùng với các kiến thức cơ bản dành cho ngành là: Ngôn ngữ lập trình C - Cấu trúc dữ liệu và Giải thuật - Mạch và Tín hiệu - kỹ thuật lập trình - Cơ sở truyền tin - Hệ Quản trị cơ sở dữ liệu - Kỹ thuật lập trình hướng đối tượng - Xử lý tín hiệu số - Phân tích và Thiết kế hệ thống - Trí tuệ nhân tạo - Nhập môn công nghệ phần mềm… bên cạnh đó còn được trang bị những kiến thức chuyên sâu của chuyên ngành như: Ngôn ngữ và Phương pháp dịch - Kỹ thuật lập trình hướng sự kiện và Macroprocesser - Đặc trưng của ngôn ngữ lập trình - Thiết kế và Phân tích thuật toán - Tính toán song song… để khi ra trường sinh viên có khả năng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin của xã hội, có năng lực tham mưu, tư vấn và có khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ với tư cách của một chuyên viên trong lĩnh vực công nghệ thông tin…

Mạng và truyền thông máy tính:

(Bao gồm những ngành sau: Mạng và truyền thông máy tính, Kĩ thuật mạng máy tính, Công nghệ Thông tin & truyền thông, Quản trị mạng, Mạng Phần cứng, Hệ thống máy tính, An toàn thông tin, An ninh mạng.)

Mạng và truyền thông máy tính hay công nghệ mạng là chuyên ngành trang bị cho học viên kiến thức, kỹ năng về mạng máy tính: Bao gồm những khái niệm cơ bản nhất về mạng máy tính, phân loại mạng máy tính, các giao thức mạng, đặc biệt là giao thức TCP/IP, học viên tìm tòi và trau rồi các kiến thức cơ bản trên hoặc nghiên cứu phát triểnThiết kế và xây dựng mạng LAN và WAN, đồng thời chuyên ngành công nghệ mạng còn trang bị cho học viên kiến thức chuyên ngành khác như: Lý thuyết truyền tin, truyền số liệu và mạng máy tính, Hệ phân tán, Mạng Intranet, Truyền thông đa phương tiện, An toàn - an ninh mạng, Quản trị mạng, Thiết kế và Cài đặt mạng, Xây dựng ứng dụng phân tán… để khi ra trường sinh viên có khả năng nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mạng phục vụ nhu cầu thông tin cho xã hội, có năng lực tham mưu, tư vấn và có khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ với tư cách của một chuyên gia công nghệ mạng.

Hệ thống thông tin:

(Bao gồm những ngành sau: Hệ thống thông tin, Quản lí thông tin.)

Khi học chuyên ngành Hệ thống thông tin sinh viên sẽ được học bên cạnh các kiến thức chung về khối Khoa học Tự nhiên cùng với kiến thức cơ bản dành cho ngành giống như sinh viên chuyên ngành Khoa học máy tính, đồng thời sinh viên còn được trang bị kiến thức chuyên sâu của chuyên ngành: Cơ sở dữ liệu nâng cao - An toàn các hệ thống thông tin - Mô hình client, server - Hệ chuyên gia - Hệ trợ giúp quyết định… để khi ra trường sinh viên có khả năng truyền tải bảo mật hệ thống thông tin trên máy tính và trên mạng…

Tin học ứng dụng:

(Bao gồm những ngành sau: Tin học ứng dụng, Tin học kinh tế, Tin học kế toán, Tin học ngân hàng, Cơ tin Kĩ thuật, Tin học ứng dụng trong truyền hình, Tin học Xây dựng, Tin học mỏ, Tin học địa chất, Tin học trắc địa, Toán tin ứng dụng, Tin học môi trường, Tin học quản lí.)

Chuyên ngành tin học ứng dụng trang bị những kiến thức chung về Toán: Giải tích - Đại số và Hình giải tích - Xác suất thống kê - Phương pháp tính - Phương trình vi phân và Chuỗi… và trang bị kiến thức cơ bản dành cho chuyên ngành: Cấu trúc dữ liệu và Thuật toán - Giải tích hàm - Kỹ thuật lập trình - Phân tích số liệu - Toán rời rạc - Hệ điều hành UNIX… đồng thời sinh viên cũng sẽ được cung cấp các kiến thức chuyên sâu của chuyên ngành như: Cấu trúc máy tính - Hệ thống và Máy tính - Phân tích chuỗi thời gian - Mô hình kinh tế - Cơ sở toán ứng dụng - Đồ họa máy tính - Phương pháp sai phân và Phần tử hữu hạn - Phân tích thiết kế hệ thống - Lập trình hệ thống - Điều khiển học kinh tế - Nhận dạng và Trí tuệ nhân tạo - Cơ sở dữ liệu - An toàn máy tính và Dữ liệu… Không những thế ngành này còn rèn luyện cho sinh viên khả năng xác định, hiểu, đưa ra các lập luận cơ sở, có tư duy chính xác, sử dụng thành thạo máy tính… để sinh viên sau khi học xong chương trình này có khả năng làm việc trong lĩnh vực hệ thống thông tin quản lý, kinh doanh, kế toán tài chính, văn phòng, quản lý và các dữ kiện của cơ quan, công ty bằng máy tính…

Các ngành nghề liên quan:

Kĩ thuật điện tử tin học
Điện tử máy tính
Tin học viễn thông
Sư phạm Tin học

Liên thông Đại học ngành Công Nghệ Thông Tin

đăng 01:32, 14 thg 12, 2012 bởi Son Le   [ đã cập nhật 03:19, 13 thg 7, 2017 ]

  • CNTT là 1 ngành nghề rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, có ảnh hưởng tới nhiều ngành nghề khác nhau của xã hội. Bạn có thể tạm hiểu:
  • Công nghệ thông tin là 1 ngành sử dụng hệ thống các thiết bị và máy tính, bao gồm phần cứng, phần mềm, để cung cấp giải pháp xử lý thông tin trên nền công nghệ cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu.
  • Học liên thông đại học công nghệ thông tin và truyền thông ngành CNTT bạn có thể làm việc cho bất kỳ công ty, tổ chức hay cá nhân nào cần đến giải pháp Công nghệ thông tin. Giải pháp Công nghệ thông tin rất đa dạng, có thể là 1 phần mềm quản lý nhân viên trong cơ quan, tổ chức, 1 website dạy học qua mạng, 1 hệ thống máy tính phục vụ cho nhu cầu tính cước, 1 phần mềm trên các thiết bị di động, hoặc những chương trình giải trí trên Internet…
  • Đối tượng phục vụ của ngành IT ngày càng phong phú, từ 1 cá nhân muốn có chiếc máy vi tính, 1 công ty muốn xây dựng Website giới thiệu sản phẩm cho tới 1 quốc gia muốn xây dựng chính phủ điện tử hay cả thị trường rộng lớn trên toàn thế giới.
  • Học liên thông đại học ngành CNTT bạn có thể làm việc cho bất kỳ công ty, tổ chức hay cá nhân nào cần đến giải pháp Công nghệ thông tin. Giải pháp Công nghệ thông tin rất đa dạng, có thể là 1 phần mềm quản lý nhân viên trong cơ quan, tổ chức, 1 website dạy học qua mạng, 1 hệ thống máy tính phục vụ cho nhu cầu tính cước, 1 phần mềm trên các thiết bị di động, hoặc những chương trình giải trí trên Internet…
  • Đối tượng phục vụ của ngành IT ngày càng phong phú, từ 1 cá nhân muốn có chiếc máy vi tính, 1 công ty muốn xây dựng Website giới thiệu sản phẩm cho tới 1 quốc gia muốn xây dựng chính phủ điện tử hay cả thị trường rộng lớn trên toàn thế giới.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÔNG BÁO TUYỂN SINH LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
( HỌC BUỔI TỐI HOẶC THỨ 7 & CHỦ NHẬT )


1/ CÁC TRƯỜNG TUYỂN SINH LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC
A. HỆ LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC CHÍNH QUY:
- Đại học Thành Đông
- Đại học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội

B. HỆ LIÊN THÔNG ĐẠI HỌC VỪA HỌC VỪA LÀM:
Đại học Bách Khoa Hà Nội

2/ ĐỐI TƯỢNG TUYỂN SINH LIÊN THÔNG:

- Trung Cấp, Trung Cấp Nghề
- Cao Đẳng, Cao Đẳng Nghề
- Thí sinh trái ngành phải đăng ký học chuyển đổi

3/ THỜI GIAN ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG:
- Hệ liên thông TC - ĐH: 2,5 năm
- Hệ liên thông TC - CĐ: 1,5 năm
- Hệ liên thông CĐ - ĐH: 1,5 năm
            Tốt nghiệp thí sinh mục 1.A được cấp bằng Đại học Chính Quy, thí sinh mục 1.B được cấp bằng Đại học Tại Chức

4/ THỜI GIAN NHẬN HỒ SƠ:

            Để tạo điều kiện cho các thí sinh có nhu cầu theo học liên thông đại học nhà trường liên tục tiếp nhận hồ sơ vào các thời điểm khác nhau như sau:
Lịch cụ thể xem tại website: http://helienthong.edu.vn

Hoặc thí sinh liên hệ trực tiếp theo hotline: 0466711112 - 0918127186

5/ LỆ PHÍ ÔN TẬP VÀ ĐĂNG KÝ: thu cùng khi nộp hồ sơ
CLICK VÀO HÌNH ĐỂ ĐĂNG KÝ TRỰC TUYẾN NGAY!
http://daynghethanhxuan.edu.vn/publics/skins/daynghe/images/dang-ky-hoc.gif
TRUNG TÂM DẠY NGHỀ QUẬN BA ĐÌNH
Địa chỉ: Phòng Tuyển Sinh, Số 23 Nguyễn Trung Trực - Ba Đình – Hà Nội ( gần Bến xe buýt Long Biên )
Điện Thoại: 0466 711 112 – 0463 289 216 ( Lưu ý liên hệ trước khi đến, tránh nộp nhầm địa chỉ )
Hotline: 09 181 27186 – Thầy Minh ( phụ trách tuyển sinh )
Like Fanpage để cập nhật thông tin mới nhất click...thông tin tuyển sinh

Ghi chú:
- 90% thí sinh đi ôn tập đầy đủ đều có kết quả tốt trong kỳ thi
- Trong quá trình làm hồ sơ nếu thiếu giấy tờ cần viết bản cam kết ( bản cam kết có hiệu lực từ 1-3 tháng )
- Thí sinh liên thông đại học được đăng ký học theo tín chỉ vào buổi tối hoặc cuối tuần
- Nhà trường hiện đào tạo theo tín chỉ vì vậy những thí sinh có nguyện vọng học rút ngắn thời gian đào tạo liên thông đại học có thể đăng ký nhiều tín chỉ hơn phù hợp với điều kiện bản thân

1-7 of 7